III. ĐẺ NƯỚC
Contents ↑Con gà gáy trên đèo xao xác
Con ác kêu trên núi oang oang
Mặt trời lên, sáng rừng sáng bãi
Sáng cả chín đất, mười phương
Làm mùa không ra cơm
Lưới chài không ra cá
Nóng quá
Đất xác xơ
Đất cần cỗi hanh khô
Dây sắn úa hết lá
Cây cau úa hết tầu
Rừng vàu không mọc măng
Con chim mò xuống đất
Con thú mò xuống nước
Chó thè lưỡi
Rái cá chạy lên đồi
Hạn chín tháng trời
Nắng mười hai năm xác đất
Cạn suối, vỡ mai ba ba
Khô đồi, gẫy sừng hươu,
Nắng nhiều, cây hết lá
Nắng cả đất hết cỏ
Trâu ăn đất cóng
Người uống nước sương
tr. 14
Gà rừng kiếm nước ở mắt lóng bương
Ông Pồng Pêu (thần nước)
Ngồi đan lưới đan chài ở cửa sổ
Trông ra ngoài ngõ
Trông lên trên trời
Ông Pổng Pêu ao ước
Ước ơi là ước
Ước sao được một trận mưa
Mưa dầm dề chín đêm mười bữa sáng
Mưa rào rào chín buổi sáng mười đêm
Mưa ở giữa đồng
Mưa vòng ra bờ suối
Mưa xói núi
Mưa mòn gò
Mưa từ chân trời này
Mưa sang chân trời nọ
Mưa mưa, gió gió
Mưa ngập ruộng sâu ruộng cạn
Mừa tràn bờ suối, bờ cao
Đồn rằng khi đó
Trời kéo mây ùn ùn
Trời đùn mây kìn kìn
Gió ẩm ầm bốn bên
Mây ùn lên từng đống
Mây kéo chồng từng mảng
Mây mưa, mây gió
Mây đen, mây vàng.
tr. 15
Nghe cơn gió vù vù
Nghe ù ù cơn mưa
Tiếng thần sấm thét xuống
Nữ thần sét xuống gào
Đầu đêm mưa to bằng hột cà
Sáng ra mưa to bằng quả bưởi
Mưa dù mưa dìn
Mưa chín đêm
Mưa liền chín ngày
Mưa bẻ cành, gây lá
Mưa rước nàng Ngâu về trời
Mưa đưa chàng Ngâu qua sông Ngân
Mưa rửa sừng đàn nai
Mưa sạch lông chim phượng
Hôm đầu mưa ngập bụi
Hôm sau mưa ngập cây
Bốn tháng nước rút
Bốn tháng nước xuôi
Nước chín đồi đổ về một biển
Nước mười đồi đổ về một sông
Nước làm khó làm đễ
Xới đất đen lên bằng miệng ang
Xới đất vàng lên bằng miệng thúng
Trôi đàn cua đá
Trôi đàn cá trong hang
Trôi đàn ba ba đi thăm suối
Trôi đàn cá chuối đi thăm vực
tr. 16
Trôi đàn nồng nọc đi thăm đầm
Trôi đàn cá cơm đi ra bể rộng
Nước rút, nước xuôi
Nước dậy, nước đi
Có đất, đất đang xơ xác
Có nước, nước còn đục ngầu
Người khôn nghe kể lại
Người dại nghe vội nghe vàng
Phải chờ nghe thêm - Đẻ Cây Gì
Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗