XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Đẻ đất đẻ nước

Text in Vietnamese

XIX. CHẶT CHU

Contents ↑

Được quả chu vàng
Nhà lang bàn chuyện lấy chu
Nhà lang sắm sửa rìu to, búa lớn

tr. 123

Từ ông già đến con trai mười ba, mười chín
Con gái gánh chuyển cơm gạo đi theo
Khiêng rìu, khiêng dao
Vào rừng, tìm chu, tìm lụi
Hôm đó
Cun Tồi cưỡi voi yên vàng
Cun Tàng cưỡi voi yên bạc.
Cun Khương đi kiệu gác đòn rồng
Có chiêng cồng
Có trống kêu
Có ông mo đi cùng chàng Tặm Tạch
Dân làng kéo đi kìn kìn
Đi ra đường Đồng Chì Tam Quan Kẻ Chợ
Đi qua mường Chợ
Ra ngõ đổi Rồng
Ra truông Lên Em
Đến quên mường Mon
Luồn ra cầu Uôn:
Về bến Lúng
Rạng rạng cầu Nóc
Di dọc chợ Ma
Ra đến đồn Ông ở ngoài Kẻ Chợ
Nhà lang giữ bình đóng trại
Mang hương vào khấn vái
Cầu đức Ông cho lành buổi tìm trái
Vái Đức Ông cho tìm thấy cây chu
Lại một sớm
Mường rộng, thung dài
Dấu chân người đi như lá rụng

tr. 124

Một lần qua núi Làn Ai
Hai tháng qua nơi Vận Chiếng
Một hôm đến đồi Khao Da
Ba hôm qua đôi Khao Dịn¹
Chín đêm mười ngày
Mới đến đổi nhà ông Cai Da
Đến sau nhà ông đạo Ký Ống
Trông đi trông lại
Thấy sáng cả trời
Rạng nơi rừng giáp đất
Sáng khắp chín phương
Rạng đi bốn đường, tám lối
Có đàn gấu đứng đợi chầu một bên
Có đàn voi đứng chầu ở phía ngang
Chớp đổ rồng vàng leo lên leo xuống
Hoa vàng bảy, trái vàng ba
Lá và hoa kêu ra nhạc ngựa
Rõ là cây chu tá, lá chu tông
Bông thau, quả thiếc.
Cun Tồi đến trước
Đóng đình bên ngang
Cun Tàng đến sau
Làm trại dưới dốc
Cun Khương dựng trại bên gốc cây chu

Chú thích (tr. 124)
1. Các địa danh đã quá xa xưa và trải ra trên một không gian quá rộng nên không thể chú thích một cách chắc chắn các địa điểm nay thuộc xã, huyện nào. Nhưng có thể chắc là đường đi chặt chu không ra ngoài tỉnh Thanh Hóa.

tr. 125

Truyền cho dân mường thay nhau vào chặt
Phập rìu vào phải năm mươi người cầm
Lấy rìu ra phải năm mươi người giật
Sáng ra chặt được bằng cái chày
Trưa ngày, chặt to bằng một vòng tay
Chặt cả ngày, cây chu không chịu đổ.
Hôm sau
Ngõ rừng vừa rạng sương
Anh em Cun Khương lại hò nhau vào chặt
Nửa chiều qua, chặt còn lỡ dở
Có một người
Đến cây chu trước nhất
Khoe thật, nói rằng:
- "Kia cây chu vàng
Đó cây chu sang, chu có
Gốc nó hãy còn lành
Chỗ chặt hôm qua đã hàn kín lại
Cây chu lớn ra như cũ
Ngó sợ vô cùng
Cun Tàng trợn mắt ngó ngó
Cun Tồi ngửa cổ ngó cây
Cun Khương nhíu mặt nhăn mày
Dẫu đứng xa cây vẫn run run đầu gối
Riêng đứa hầu đêm qua ngủ lại
Ngủ lại gốc cây chu vàng
Ngả lưng nơi cây chu tá
Đứa hầu nói rằng:

tr. 126

- "Nửa đêm
Tôi nghe đàn ma van rối rít
Trời tối mịt mù
Ma hu hu khóc trên cây chu cây lụi
- "Ma nói:
Chỉ sợ lưỡi rìu to bằng bàn tay
Thân rìu bằng cây lấy tráy
Lắng đến lời đến lẽ
Nhà lang cho mường trở lại
Về trại giữa rừng
Đi tìm người thợ
Sai thợ đúc lưỡi rìu bằng bàn tay
Thân rìu bằng cây láy trây
Ba anh em nhà lang
Dọn mâm cơm cầu trời
Dọn xa nơi bờ suối
Hết khấn lại vái
Nói nói cười cười
Cầu ma trời cho rơi cho rõ
Để chặt cây cho đổ
Bổ cây cho nghiêng
Phòng ma đằng dưới đánh lên
Phòng ma đằng trên đánh xuống
Nhất một, vỏ cây bén
Nhất hai, vỏ rời rời
Nhất ba, cây chu rơi lá
Cây chu ngả nghiêng
Xiên bên này, bên kia
Rìu ha đi, hạ lại

tr. 127

Cội chu đã nga
Rễ chu đã trốn
Cây chu lật như đánh chiêng
Đất rung lên sấm gọi
Cội chu ngã chối với
Dội đi xa xa
Ở bốn đất mường nhà
Ba đất mường trong
Cùng nghe tiếng chu đổ
Chu đổ có gió
Chu ngã có sấm có sét
Chu chết có ma
Thế là
Chặt chu đã chặt gốc
Trốc chu đã trốc rễ
Cun Khương kêu tra: gọi trẻ
Chật dây, xâu chạc káo về.
Bắt ông già chặt cây làm đà
Con gái, con trai ùn ra cùng kéo
Kéo lồng kéo lộn
Kéo từ ban sáng
Kéo đến trời trưa
Mà cây chẳng chuyển
Lang Cun Khương lại bày:
- "Ai hay bói thư bói
Ai hay mo thử mo
Ai tìm được nguyên do
Làm cho chu lay chuyển
Thì được thưởng tiền bạc
Mọi người ngơ ngơ ngác ngác

tr. 128

Ngó ngược ngó quanh
Giúp nhà lang tìm được ông mo, ông bói
Ông mo mù mắt, phải có người dắt tay
Có người bón cơm, đút nước
Ông mo hay ao bay ước
Ước được quả trứng gà
Để ra cúng thánh
Ông bói hại mắt một mày
Tay dài chạm gót
Môi mắm, lưỡi lẻ ra như con rắn
Ông mo còn thách đòi ăn
Ông bói còn đòi uống rượu
Ăn no, rượu say, nói rằng:
- "Ma cây chu đòi ăn gạo ăn mật
Đòi ăn mật ăn phổi thằng Tặm Tạch
Phải lấy đầu lâu rạch làm mõ
Lấy xương nó thay gỗ làm đà
Mường sẽ kéo cây đi qua
Di hung hung đỡ kéo
Cây mới chịu bỏ gốc
Cây mới trốc khỏi rừng
Cun Khương nghe rõ lời
Liền sai đứa lính cả
Chạy mau về dinh về trại
Với lấy con dao cần bạc
Vác lấy con mắc cần ngà
Dem ra chặt chàng Tặm Tạch
Quỳ trước cây chu đá, lá chu đồng
Bông thau quả thiếc
Cúi mặt chờ chết

tr. 129

Nước mắt nhỏ ròng ròng
Mường nghe thương thương
Chu chương nhỏ nước mắt
Nghĩ lo, nghĩ thiệt
Sợ nhà lang phạt
Chắng ai đám nói một câu
Tặm Tạch vòng tay ra sau cho mà trói
Mồm chẳng nói một lời
Nước mắt cạn rồi
Lòng sôi căm cắm
Ý căm giận dữ
Bụng nghĩ thương nơi ăn chốn ở
Nhớ vợ thương con
Chịu chết vì ma hờn ma quở
Rừng rừng nổi gió
Có lệnh lang truyền
- "Hỡi chu, hởi chương
Hỡi mường, hỡi nước
Nhà lang muốn yên
Dân làng muốn giàu muốn có
Phải giết bó Tặm Tạch
Chặt xác, xẻ thây
Lấy xương làm đà kéo chu kéo lụi
Chu chương đừng sợ
Mường nước chớ kinh
Một lưỡi mác vút qua
Đầu Tặm Tạch lăn vội

tr. 130

Máu đỏ xối đất vàng
Lang róc xương làm đà
Lột da xoắn làm dây kéo
Người xúm tay hờ hờ
Kẻ thò tay ướm ướm
Chu rung rung chuyển chuyển
Ông già kéo đằng ngọn
Con trai uốn đằng đầu
Chân trước đạp chân sau
Bước lùi bước giật
Cây chu đi tuồn tuột
Trượt khỏi gò Cai Da, Ký, Ống
Kéo xuống núi Cửa Khổ Ràng Kho
Kéo ra sông ra suối
Kéo đến chân đồi
Lang cho mường nghỉ hơi nghỉ sức
Ông già ngồi nhổ râu bạc
Con gái xõa tóc bắt chấy cho nhau
Người vào núi hái nấm
Kẻ xuống rộc hái môn
Gái trai ồn ồn trò chuyện
Bỗng:
Chạc mũi cây chu bị nghiên
Con kiến đòi ăn
Con trăn đòi thét
Con vẹt đòi cười
Con côi đòi có bố
Con chó chạy rông
Con công đòi ngủ
Cun Khương vội gọi mường lại kéo

tr. 131

Mường vừa nâng dậy
Cây chu đã chạy
Mường vừa ngoái lại
Cây chu đã lao
Cây chu mắc phải gốc cây găng
Cây chu lăn quăng xuống Ang Vận Chiếng
Chìm nghỉm, mất tăm
Cây chu không có mồm có miệng
Nhưng lúc trôi nó có tiếng ầm ầm.
Rầm rầm xuống dốc
Đuôi chu ở ngọn đổi Ca Da
Đầu chu cắm ra Ang Vận Chiếng
Người tuột dây ngậm miệng
Người lên tiếng kêu trời
Cây chu chạy trốn rồi
Cây chu trôi xuống sông xuống nước
Mường buông chạc trước
Rồi tuột chạc sau
Chạc đứt tay đau đau
Gai quặc đầu nhoi nhói.
Cun Tồi từ đốc đi ra
Cun Tàng từ nhà đi lại
Cun Khương đợi ở bờ Ang Vận Chiếng
Lên tiếng nói rằng:
- "Nhà ta chẳng chịu điều quái
Chẳng làm nên điều gở
Chu này ta không bỏ
Khó mấy mường phải làm
Phải kéo chu về mường

tr. 132

Phải lặn xuống sông buộc cây cho chắc
Mắc dây cho cân.
Cả mường lặn mò cây chu
Từ lúc trời sáng
Đến lúc trăng mè
Mò cây chu chẳng nổi
Trói cây chu chẳng nên
- "Mường đành lên đồi đóng trại
Mường sợ nhà lang giận
Sợ nhà lang đánh đòn
Con trai đau mắt
Ông già chết ngất chết ngơ.
Từ dưới nước lên bỡ
Quơ tơ mỏi lả
Người ngả ngả, xiêu xiêu
Nửa chiều
Lang Cun Khương
Gặp đàn rái bạc
Tuốt con dao sắc
Cun Khương sắp chém
Rút mác sắc bén -
Cun Khương sắp đâm
Rái cá xin van:
- "Xin ông quan

tr. 133

Đừng chém nồi rái cá
Muốn việc gì lang cứ nói
Gọi việc gì lang cứ kêu
Cun Khương tra mác vào nắp
Lắp dao vào vỏ
Nói tỏ một lời:
- "Này con rái đen
Này con rái bạc
Mày ở đầu nước
Mày ở vũng sâu
Có thấy cây chu trôi đâu không hả rái
Rái thưa:
- "Khi lặn buổi trưa
Lúc qua lòng xoáy
Tôi có gặp có thấy
Đầu cây chu ấy đã hóa ra con Cá Kè.
Đuôi rẽ nên con cá Cắn
Buổi sớm lượn lờ đi ăn
Buổi chiều bơi quanh Ang Vận Chiếng
Cun Khương lại bảo:
- "Mách tao thật lòng, mai sau tao chuộng
Muốn uống rượu tao cho uống
Muốn cày ruộng tao cho cày
Muốn ăn quả cây, tao cho rừng, cho núi
Mày có buộc được nổi cây chu không
Rái thưa:
- "Lăn rồi, chúng tôi xin buộc
Buộc rồi, chúng tôi xin kêu.
Cun Khương lại nói:
- "Này đàn rái cá gi

tr. 134

Buộc được dây vào mũi
Trới được dây vào chu
Rái muốn ruộng ta cho ruộng
Rái muốn ao hồ, ta cho ao hồ
Rái muốn cái gì ta cho cái ấy
Rái thưa:
- "Ông lang ơi
Chúng tôi không ăn cơm uống rượu
Chúng tôi không lấy ruộng lấy nương
Chỉ xin nhà lang
Tháng tư, tháng năm
Chúng tôi được xé nơm, xé đó
Tháng hai, tháng ba
Chúng tôi được xé nổ tha, nổ chặng¹
Và để con vào bến nước nhà lang
Nghe lời đàn rái cá
Lòng nhà lang đã ưng
Bụng nhà lang đã chịu
Đàn rái cá lặn xuống buộc dây
Nối được dây đầu
Cả mường kéo lật đằng sau
Cây chu nổi nổi
Cội chu lên tuột tuột
Vực chu lên một hơi
Trôi một chặng, một đoạn
Cây chu kêu như sấm
Cả mường đánh cồng đánh trống.
Kéo chu qua rừng

Chú thích (tr. 134)
1. Tha, chặng: các cách ngăn suối bắt cá.

tr. 135

Qua bãi, qua núi, qua khe
Cả mường kéo chu qua Lài Rô
Xuống bến đò Lài Rê
Qua Hổ Dô, Hổ Vành
Qua đồi tranh, làng Kến
Kéo đến Bưa Mu
Kéo chu vòng qua bến Cầm, núi Nán
Kéo chu xuống làn núi Con Ai
Kéo qua làng Dé
Kéo đến mỏ Xa
Kéo về mường Khôồng
Kéo ra mường Lãm
Kéo xuống làng Dát
Kéo tạt truông Cán
Kéo mạnh đến mường Vong
Kéo lùng ra truông Khoóng
Kéo xuống Bái Khai

Chú thích (tr. 135)
1, 2. Thuộc xã Thiết Ống, huyện Bá Thước, Thanh Hóa.
3. Hai thác lớn trên sông Mã thuộc địa phận xã Thiết Ống.
4. Làng Kến: thuộc xã Thiết Ống.
5. Tên gọi là Lan Hán thuộc xã Long Vân, huyện Bá Thước.
6. Nay còn tìm thấy địa danh này ở huyện Bá Thước.
7. Đúng ra là núi Làn Ai, thuộc hai xã Long Vân và Ban Công,huyện Bá Thước.
8. Nay là xã Điền Lư huyện Bá Thước.
9. Một địa danh trong huyện Bá Thước.
10. Nay là xã Quý Lương, huyện Bá Thước.
11. Còn gọi là Chiềng Lãm, thuộc xã Điền Lư, huyện Bá Thước.
12. Thuộc xã Điền Lư, huyện Bá Thước.
13. Nằm giữa hai huyện Bá Thước và Cẩm Thủy.
14. Nay là Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy. Như vậy đã kéo Chu từ Bá Thước sang Cẩm Thúy.
15, 16. Thuộc Cẩm Thủy.

tr. 136

Kéo ra nơi bến Cót
Kéo ra đồng Kho
Kéo chu đi Tải Cạn
Kéo chu đến Quán Ven
Kéo chu lên hang Á
Kéo chu ra ngả Uông
Kéo chu ra truông Cát.
Kéo chu tạt truông Khương
Kéo chu sang Đình Tròng
Kéo chu lồng Pú Bể
Kéo chu rẽ ra núi Kheng núi Cái
Kéo chu khỏi mường Tre
Kéo chu xộc mường Cốc
Kéo chu qua rộc nhà ông lang Đạo Quạng
Kéo chu đi Bến Piệng
Kéo chu liệng Bến Púng
Kéo chu ra chốn mường Rồng

Chú thích (tr. 136)
2, 3. Thuộc huyện Cẩm Thủy.
4, 5. Thuộc huyện Thạch Thành. Từ đây Chu đã được kéo sang địa phận Thạch Thành: ì". Nay là phố Kim Tân, huyện Thạch Thành. Nay là phố Cát
8. Thuộc Thạch Thành.
9. Có Thể là đền Sòng. Giáp giới hai huyện Thạch Thành - Hà Trung.
10. Vùng giáp ranh giữa Thạch Thành - Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
11. Thuộc xã Văn Đức, huyện Lạc Sơn.
12. Cây chu được kéo sang đất Hòa Bình.
13. Xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn.
14. Lang Đạo trông coi mường Quạng, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
16,16. Xã Ngọc Mỹ, huyện Tân Lạc. l
17. Xã Phúc Tuy, huyện Lạc Sơn.
1. Trên sông Mã, thuộc xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Thủy.

tr. 137

Kéo chu ra chốn mường Khải, mường Be
Réo chu trở về mường Chín.
- "Kéo chu đến đổi Vồng, bãi Pạm
Kéo chu đi thăm giếng mường Vo
Kéo chu đi thăm mường Trắm, mường Tró
Kéo chư đi ngó đồng Vin Vong đồi Cóm
Kéo chu đi trên mặt bái Dật
Kéo chu tắt chân núi làng Ne
Kéo chu ra sông Tẻ Vót
Kéo chu lọt sông Khôi, bến Lụng
Kéo chu xuống Bái Nại, mường Mặc, mường Quà
Ra thăm mường Trần, mường Trường, mường Um, mường Mộc
Thấy nóc Chường Lầm, chợ Tráng
Kéo xuống sông Vó Dón, Vò Ly
Kéo đi mường Rậm, mường Khói
Kéo từ mường Côi đến Vó Giò
Kéo qua mường Vang, mường Cừa
Kéo qua bưa gò Ró, nà Ốt
Kéo đến đất Cun Xưa, Đạo Bắp
Kéo đến đền Vua Ông - Kẻ Chợ
Qua cầu Rắn, đất Rồng
Cầu Rồng, cầu Nóc
Cầu ông vua ước được

Chú thích (tr. 137)
1. Xã Phú Lương, xã Chí Đạo huyện Lạc Đơn.
2. Xã Phú Lương huyện Lạc Sơn.
3. Thuộc huyện Lạc Sơn.
4. Thuộc huyện Lạc Sơn.
5. Thuộc huyện Lạc Sơn.
6. Tất cả các địa điểm trên đều loanh quanh trong các huyện Tân Lạc, Lạc Sơn, Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

tr. 138

Réo chu ngược qua núi Tiên
Kéo đến đất mường Quyền, mường Lạng
Gặp con ma yêu tỉnh đánh xuống
Gặp con ma mộng đánh vào
Dành kéo chu trở lại cầu Rồng, cầu Nóc
Đến đất Đồng Chì Tam Quan Kẻ Chợ
Lúc ấy
Cun Tối, Cun Tàng, Lang Cun Khương
Phải làm tờ nộp gỗ
Phải làm sổ nộp chu
Tờ nộp nhà vua thu, nhà vua nhận
Nhà vua thưởng công
Cun Tồi năm trăm nén vàng
Cun Tàng năm trăm nén bạc
Lang Cun Khương được thưởng mở nước tiên
Làm cổ tích gia truyền
Chuyện tiên này để lại
Thế rồi
Mọi người được về thăm vợ, thăm con
Mọi người được về thăm bố mẹ
Nghỉ một ngày cho khỏe
Lại trở vào làm nhà chu cho lang
Chuyện làm nhà chu, nhà chương
Xim mường hãy nghe sang hồi khác

Chú thích (tr. 138)
1, 2, 3. Chưa rõ ở đâu, nhưng chắc là thuộc địa phận người Việt vùng Ba Vì, Hà Tây.

tr. 139

Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗