XX. LÀM NHÀ CHU
Contents ↑Lang Cun Khương thịt trâu, thịt bò
Cho làm cơm, làm rượu
Để làm vía cho Cun Tồi, Cun Tàng, Lang Cun Khương
Rượu thơm cùng uống
Thịt nướng cùng ăn
Ăn xong Lang Cun Khương liền bảo:
- "Bây giờ,
Bố muốn làm nên cửa
Bố muốn sửa nên nhà
Bay phải đi mọi nơi
Tìm lấy mười ba người thợ khéo
Về đóng kiệu, đóng ngai
Đóng xà vàng, xà bạc.
Ba con được lời
Đi ngược đi xuôi
Tìm được mười ba người thợ khéo
Đã đẽo nên cột
Đã gọt nên kèo
tr. 140
Bào nên xà dọc
Rọc nên xà ngang
Nhưng dựng nhà mấy lần đều đổ
Đào ba mươi sáu lỗ mà dựng cột không nên
Ba anh em
Lại đi khắp chu chương mường nước
Tìm rước về một ông Âu mo¹
Đầu Âu có ba xoáy
Gáy Âu có cánh dơi
Tai Âu mỏng như chiếc mộc nhĩ
Âu ăn, Âu nhỉ ˆ.
Âu để trứng gà lên vành tai
Để tay lên sống mũi
Bói rằng:
Nai đen bò vàng
Lợn lang trâu bạc.
Ốc lặn ngoài đồng
Việc nhà ông lang
Phải thịt năm trâu đen
Thịt năm con trâu bạc.
Cúng ma ông, ma tổ
Cúng ma cố, ma bà
Cúng ma rừng, ma núi
Cúng ma chu, ma lụi
Lễ mường trời năm phương
Lễ mường đất tắm hướng.
Chú thích (tr. 140)
1. Âu mo¹: người đàn ông làm nghề cúng ma.
tr. 141
Nghe bói rành rành
Biết cành có lá
Biết cá có vây
Biết việc nhà này có chuyện.
Ba anh em ra bến
Về đến cửa đến nhà
Tâu lại vua cha
Những lời mo đặn.
Xong cúng, xong lễ
Lang Cun Khương đóng cồng đánh trống
Hồ mường nước đến dựng nhà chu
Thế rồi
Nhà chu dựng nên rộng rộng
Trước vườn dựng nhà Khú, nhà Rồng¹
Đằng trong dựng nhà Long, nhà Phụng
Dựng nhà dài ngoài hiên
Làm nên nhà khách
Đặt nên nhà ăn làm
Làm kho lúa, kho muối
Làm kho mắm, kho bát
Chín ngăn kho vàng
Mười ngăn kho bạc
Chú thích (tr. 141)
1. Nhà trang trí văn hoa rồng rắn.
tr. 142
Làm ngăn kho súng
Làm vùng diểm sinh
Dựng dinh Cun Tồi
Dựng trại Cun Tàng
Xây bếp bạc
Xây ngõ vàng
Cho Lang Cụm Khương
Dựng được nhà cun lang kẻ chợ
Làm nơi ăn, chốn ở
Cho nàng Dặt Cái Dành chăn tầm ươm tơ
Xây nên cửa Đông
Trồng lên cửa Tây
Xây nên cửa Bắc
Đắp nên cửa Nam
Xây nên thành Đồng Chì Tam Quan Kẻ Chợ
Nhà chu làm xong
Nhưng nhà chu chưa sáng
Trong nhà chu chưa rạng
Ngoài nhà chu chưa vang
Lúc ấy
Nghe đồn rằng:
Có nàng Sông Dón
Đẹp lắm đẹp ghê
Má nàng đó như hoa
Tay nàng trắng như nõn chuối
Gót chân hồng như trứng gà
Nhưng nàng đã thương chàng Khán Đồng
tr. 143
Chẳng đến phải ai thương nữa
Lang Cun Khương nghe đau trong dạ
Nghe mỏi trong ngực
Nghe tức trong lòng
Muốn lấy nàng làm vợ
Nhưng không có mẹo
Rồi lang khéo nghĩ nên mưu
Bắt chàng Khán Đồng
Phải lội xuống sông
Tìm rùa vàng, nộp cho nhà lang
Khán Đồng ăn ngủ không yên
Ngày đêm ủ rũ
Cơm không buồn nuốt
Sáng đi thăm ruộng.
Chiều đi săn muông
Lúc nào cũng chỉ nhớ nàng Sông Dón
Chàng thổi sáo ôi
Gọi người tình lại
Nàng Gông Đón tới
Cùng ngồi ăn trầu
Rủ nhau ăn quả mơ, quả quýt
Khán Đồng nói lại lời Cun Cần
Đã bảo nên, đặn có
Khán Đồng nhớ thì nhớ
Sông Dón thương cứ thương
Hẹn nên tốt đằng chồng vợ.
Thế trắc, thế trở
tr. 144
- "Không lấy được nhau.
Thì cùng ăn lá ngón
Một hôm đi làm rẫy
Khán Đồng gặp rùa vàng
Chạy về bắt lấy
Rùa ra sức chạy
Chui vào hang đá đen đen
Khán Đồng đút tay theo
Bỗng hòn đá ập lại
Tay mắc vào đá
Chẳng thể rút ra
Chẳng có ai mà kêu cứu
Lúc đó, con chó vằn vện
Đến bên chủ nhìn
Chó chạy xuống, chạy lên
Con chó thương chủ
Khán Đồng liền bảo:
- "Vện ơi! Chạy về nhà
Cắn váy nàng Sông Dón
Lôi đến cứu ta
Nghe xong lời chủ
Vện chạy qua đồng
Vện băng qua sông
Về tìm nàng Sông Dón
Nàng đến đầu dốc
Mắt đã đỏ ngầu
Nàng gục đầu vào đá
Khóc chuyển núi rừng
Chú thích (tr. 144)
1. Lá ngón: một loại lá độc, ăn chết người.
tr. 145
Truyền đến tai ông Bụt
Bụt hiện lên bảo rằng:
- "Hỡi con gái yên
Hỡi con chiều, con chuộng
Chớ khóc lắm mà già
Đừng khóc nữa mà khổ
Ta biết con có hiếu
Ta hiểu con khôn ngoan
Ta sẽ cứu chồng con
Hai con đừng buồn nữa
Bụt vẫy tay khe khẽ
Đá té nhào nhào
Khán Đồng phủi tay choáng váng
Vội khoe với nàng Sông Dón:
- "Bụt cho ta rùa vàng
Sông Dón và Khán Đồng
Đực Cun mừng lắm
Khán Đồng nghe tiếc của
Chẳng muốn nộp lang
Nhưng không nộp rùa
Thì mất nàng Sông Dón.
Khán Đồng đành đem đi nộp
Xẩm tối mang rùa sang
Nhà Lang mừng quá
Hớn hỗ túm lấy rùa
Không đòi lấy nàng Sông Dón nữa
Lang Cun Cần sai người đi tìm thợ
Nấu nước rùa vàng
Đi tắm khắp nhà chu
Tờ đó,
Sáng mái, sáng nhà.
tr. 146
Sáng kho, sáng trại
Sáng ngai, sáng kiệu
Sáng chiếu, sáng giường
Sáng Đông, sáng Tây
Sáng Nam, Sáng Bắc
Một hôm,
Nhà Lang bắn pháo, tháo ống lệnh
Rồi cho đứa lính Cai Cả
Và đứa ở cai hầu
Đi mời các ông mường Bi, mường Vang
Mường Thành, mường Động
Mời những ông mường lớn nhất
Đến ăn mừng nhà chu
Khi nhà chu đã sáng tỏ
Ngõ nhà chu sáng cả binh mường
Sáng cửa, sáng người
Sáng trời, sáng đất
Thế mới thật nên nhà ông Cun, ông quan
Thật nhà ông lang mường Mọn¹
Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗