XXI. ĐỐT NHÀ CHU
Contents ↑Từ ngày Tặm Tạch
Bỏ xác trên gốc chu
Chú thích (tr. 146)
1. Tên tự gọi của người Mường.
tr. 147
Bỏ lại vợ dại, với hai đứa con thơ
Nghe nhà lang ăn mừng to
Thằng Tặm vơ lấy áo
Con Tạch chạy theo anh
Hai đứa đến nhà lang
Đứng ngoài đường mà ngó
Người ta ăn mừng cửa
Sao bố mình đã chết đi
Người ta ăn mừng nhà
Sao bố mình đã chết mất
Bố có công đi tìm chu mật
Bố có công đi tìm chu sáng, chu vàng
Bố có công tìm của
Bố có công mách dàng
Sao cho ta nhịn đói?...
Thấy Cun Tồi đi tới
Hai đứa vội tránh đàng
Ngỡ bước chân ông lang
Ra đón con của người có công vào cửa
Nhưng Cun Tồi cứ đi nữa
Bỏ qua hai đôi mắt trông mong
Chân đứng đã mỏi
Bụng đói đòi ăn
Thằng Tặm, con Tạch đi dần vào sân
Lính cai lôi ngay ra cửa
Đuổi hai đứa ra bờ rào
Thằng Tặm, con Tạch ngó nhau
Rầu rầu đi qua rào, ua ngõ
Trở chân về nhà
Hai đứa còn con nít
tr. 148
Đã biết tức biết căm
Mặt giận nên hầm hầm
Mắt căm nên tía tía
Thằng Tặm cầm một ống xương bò
Giáng mạnh vào mặt trống
Mặt trống thủng máng lớn
Trống tan, tang rách
Lập tức
Cun Tồi xách gươm cán bạc
Cun Tàng xách kiếm cán ngà
Lăm lăm chực chém
Sẵn ống xương, Tặm, Tạch ném vào mặt lính
Hai đứa nói rằng:
- "Ói, ông lang
Bố tôi chịu bỏ xác
Trên đổi Lai Láng, Lai Ly
Chết nằm trên đồi chu
Bỏ của, bỏ cơm
Bỏ con, bỏ vợ
Mà các ông sao ở bạc
Mà mường nước sao vô tình
Mặc các lang ngó theo
Thằng Tặm trèo lên cửa sổ
Cất giọng khấn ma bố
Vươn cổ gọi ma bà
Khấn rằng:
- "Ma ông về đâu hãy nghe cho rõ
tr. 149
Ma bố ở đâu hãy về mà bênh con
Lập tức,
Trời tối mây đen
Ù ùn sấm chớp
Thắp đèn, đèn tắt
Thắp đuốc, đuốc tàn
Anh em Tặm, Tạch nhảy quàng ra sân
Chạy luôn ra ruộng
Chạy xuống rừng dâu
Chạy vào suối cạn
Chạy ra hòn sâu.
Chạy vào rừng cao
Chạy ra bãi lớn
Chạy quanh, chạy lộn
Trốn biệt mất tăm
Nhà lang đến bắt tội mẹ
Tặm, Tạch lại phải mò về
Ra xưng, vào thú
Cun Khương quay lại bảo Tặm, Tạch:
- "Bay về bán cửa bán nhà
Bán đồng gần đồng xa
Mua cho nhà lang chín con khỉ
Một trăm con mèo
Chuộc vạ mới xong
Tặm, Tạch đi ra
Lòng nghe tức bực
- "Thương mẹ, giận nhà lang.
Bèn đứng giữa đàng kêu khóc
Ai thấy cũng thương
Người người dừng chân dỗ ngọt
tr. 150
Thế tồi,
Có bà già đi gặt
Lật đật quảy gánh đi qua
Hỏi ra, hỏi dồn:
- "Cháu ơi, cháu à
Nhà có việc gì
Mà ra ngồi đây khóc lóc.
Thằng Tặm chìa tay áo
Lau nước mắt
Nói ngay, nói thật
Bà đi gặt, rưng rưng nước mắt
- "Thôi thôi, Tặm à
Khóc qua đi Tạch hỡi
Hai cháu chớ ngồi chốn này khóc lóc
Đừng khóc cho nhọc cho nhằn
Đừng khóc nhăn khóc hại
Đừng khóc nhói, khóc thương
Đã thế
Các cháu hãy buộc rơm vào đuôi mèo
Treo lửa vào đuôi khỉ
Để nó leo lên nhà chu nhà lụi.
Liền đó
Thằng Tặm, con Tạch
Xách gói trở về
Nghe lời bà đi gặt
Đặt cách đặt lời
Đã nghe vui trong đạ
Nghe hả trong lòng
Thằng Tặm, lội rừng không còn mệt
Con Tạch lội rậm không biết nhọc
tr. 151
Bắt khỉ bắt mèo
Buộc vội, buộc vàng
Đốt lửa vào rơm
Nhà chu đùng đùng bốc cháy
Rực cả núi con Ai
Sáng cả đồi Lai Ly, Lai Láng
Lửa bốc mười chín ngày
Khói tỏa mười chín đêm
Cháy hết quèn, hết đất
Cháy hết nhà, hết đụn
Cháy đúng kho diệm sinh
Cháy bết dinh Cun Tồi
Cháy sém sập bạc, ngai vàng
Cháy lan ra mường
Cháy quàng ra núi
Cháy cả đổi chăn trâu
Lủa cháy đến đâu
Khói ào đến đó
Trụi rừng, hết cỏ
Nát đá, cạn khe
Anh em nhà lang
Xông ra đuổi chém anh em Tặm, Tạch
Nhưng anh em Tặm, Tạch
Đã chạy lên núi, lên rừng, vào thung, xuống ruộng
Thằng Tặm biết biến hóa
Con Tạch biết ẩn chui
An vào gốc cây sĩ
tr. 152
Nhà lang đi qua chẳng biết
Mường nước đi đến chẳng hay
Lang Cun Khương vác dao chém lăng nhăng
Chém vội cây sĩ giữa đồng
Cho hả lòng, hả tức
Để hả cơn bực đuổi thua
Không ngờ trong cây sỉ có máu đỏ chảy ra
Máu người hòa máu sỉ trắng đục
Thương thằng Tặm, con Tạch
Biến ra cây, còn máu thật máu tươi
Máu còn đây mà người chẳng thấy
Máu chảy vào gốc cây cà
Cây cà liền biến ra con moong mật¹
Máu chảy vào bụi rau lốt
Bụi rau lốt biến ra con moong hai
Máu chảy vào trong rừng khăng khai³
Rừng khăng khai³ biến nên con moong ba, moong bảy
Có một tia máu ròng ròng
Biến ra con moong biết cười hơn hớn.⁵
Con moong lớn tường vường
Cả rừng, cả truông
Không con nào to bằng con ấy
Sấm dậy
Nó mọc móng, mọc vuốt
Sét dậy
Chú thích (tr. 152)
1. Moong mật: thú dứ.
9. Moong hai: cầy cáo.
8. Khăng khai: dài rộng.
4. Moong ba, moong bảy⁴: các loại cáo, khỉ, hươu, nai..
5. Hơn hồn: nhăn nhở, độc ác.
tr. 153
Nó mọc mắt, mọc tai
Tai nó biết dò
Chân nó biết bò, biết đi
Khoác vần rằn rỉ ngang lưng, dọc sống
Nó giống con hươu sao
Nhưng nó hay cào, hay cắn
Mắt sáng như đuốc, như nến
Móng vuốt sắc bén như liềm cắt gianh
Người không thiêng không lành
Ai chạy không nhanh
Thì bị nó bắt, nó vồ, nó dằng, nó xé
Từ đó
Khắp mường, khắp rừng
Đều sợ con moong hung ác
Đều khóc khi thấy dấu chân moong
Đầu hôm
Con moong bắt lợn bắt gà
Sáng ra.
Con moong bắt trâu bắt ngựa
Nửa ngày
Con moong bắt người đi rừng
Vồ người đi đường đi sá
Vô cả bà lang Khương đi về nhà ngoại
Bắt ông lang Vống đi thăm nhà em
Mường dưới, mường trên
Phải chạy moong cả đêm cả ngày
Sợ con moong vuốt dài
Mắt lồi hung dữ
Thứ moong gớm gớm
Đi sớm
tr. 154
Moong bắt người đi sớm
Đi chiều
Moong bắt người đi chiều
Thế là
Chu chương mương nước
Phải sắm giáo, sắm mác
Rèn súng, rèn gươm
Đi săn, moong lồ
Moong quái, moong gở
Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗