XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Đẻ đất đẻ nước

Text in Vietnamese

XXVI. ĐƯA VUA VỀ ĐỒNG CHÌ TAM QUAN KẺ CHỢ

Contents ↑

Rang sớm
Hội chu, hội chương
hội mương, hội nước

Chú thích (tr. 175)
1. Hình con rồng trang trí trên đình, nghè…

tr. 176

Chín dàn trống, chiêng đi trước
Mười phường sắc bùa đi sau
Có lính đi đầu vác gươm, vác giáo
Kê dẫn đầu ở mường cây gạo¹
Người khoá đuôi ở dạp Pông Pêu²
Con gái rầm rì đầu sông
Con trai đã vào núi cái
Ông già đi men bờ rẫy
Già già, men ruộng, men nương
Áo đẹp quần chùng như ong như bướm
Quạ bay qua kêu loạn
Bướm bay lại bướm kinh.
Nai thấy, nai giật mình
Trút thấy, trút chui xuống lỗ
Con cua tọt vào hòn đá
Cá thấy, cá lặn xuống sông
Người mường trên kéo lại
Người mường dưới kéo lên
Nghe rằng:
- "Ai chưa có cơm thì đi giã lúa
Ai chưa có cá thì tát đầm tát ao
Sáng ngày hôm sau đi đưa vua cho sớm
Xin mường cho bốn mươi trai tơ
Bốn chục trai thanh
Mặc áo kiệu kẻ vàng
Mặc quần sang nẹp đỏ
Đội mũ mào gõ kiến

Chú thích (tr. 176)
1. Đất.
2. Nước.

tr. 177

Xin mường sắm đủ trống chiêng
Giáng bảy ngày chín đêm
Xin mường lo đuốc lo đèn
Đốt lên cho lụi nắng
Xin mường cho trăm gánh cơm trắng
Xin mường cho chín gánh thịt khô
Mang đi ăn tháng, ăn ngày
Con gái mang vòng bạc đầy tay
Con trai buộc vải vào cổ tay cho hồn cứng cáp
Xin mường đi đủ già đủ trẻ
Có khỏe có gầy
Xin mường loan cho nhau hay
Bày cho nhau tường tó
Xin mường mang theo gươm có vỏ
Mang theo giáo có chuôi
Để răn bảo đứa nào làm giặc
Xin mường cầm theo mác
Đề phòng giặc loạn đồi Chu
Phòng giặc ở bên sông rộng
Thế rồi
Ngồi trên kiệu đòn rồng
Vua trông ra ruộng
Ngó xuống sông bến
Quay lại dòm mường
Chắng còn thấy có giặc
Chẳng còn vấp nạn ma
Chỉ còn thấy đàn cò bay lượn
Thấy đàn bò đi ăn
Thấy con trâu giữa bãi
Thấy con gái vác nước

tr. 178

Thấy đàn vạc đi ăn
Thấy đàn nai chạy rong
Dịt Dàng mừng lắm lắm
Nghe tiếng gáy gà trống
Nó dạy bảo vua
Có về Đồng Chì Tam Quan Kẻ Chợ
Vẫn nhớ trở về đất tổ
Hãy nhớ nơi đất nhà
Ngày rằm đi qua
Ngày xa vắng đến
Nhớ chốn đẻ được cây sĩ
Cây sĩ chia mường chia nước
Nơi đẻ ra lửa
Nơi đẻ ra nhà
Nơi có cây chu đá, lá chu đồng
Bông thau, quả thiếc
Nơi có người dạy đệt
Nơi có thợ biết thêu
Thế rồi
Vua lại ngó ra bến
Nhìn lại sông
Thấy người đông ngóng đợi
Đủ mặt đứa ở, con hầu
Đu mặt kẻ có râu, người đẹp lão
Vua liền vén tay áo
Tró tay dặn cụ già:
- "Các ông già ơi
Các ông là cha, là tổ
Ông quay về cho đỡ
Ở nhà hãy lành sức, lành thân
Đừng quá chân qua núi

tr. 179

Ông già cúi lặng nói:
- "Nhà vua chớ ái ngại
Lão còn đưa chân tới ngọn sông
Lão còn đi thông ngọn núi
Muốn tiễn vua đến đồi bãi
Đưa vua đến cật mường
Dẫu có mục xương cũng là hả dạ
Liền đó
Vua lại nhìn xa nữa
Thấy còn cây mọc giăng
Lá xanh chồi
Lá mới uốn
Tay vua bẻ một ngọn
Rắc lá xuống lỏng đường
Dặn chu chương làm ăn cho đủ
Từ nay về sau
Ngày này ngày đến
Đất đã nên đã tỏ
Ngõ đã nên đã thành
Người hay ăn hay làm
Chuyện đã nên trọn
Đẻ đất, đề người
Chuyện cứ nên vui
Ai còn nghe dang dở
Đã nghe rồi nghe nữa
Nghe đến mai sau
Chuyện mở đầu theo năm lành tháng tốt
Này đất, này mường
Này chu, này chương

tr. 180

Này lửa, này nước
Mặt trời đã rạng
Mặt tháng đã tường
Đã sáng chu
Đã sáng chương
Sáng mường
Sáng nước.


Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗