XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Đẻ đất đẻ nước

Text in Vietnamese

VI. ĐẺ NGƯỜI

Contents ↑

Cây sỉ mục
Cành loà xoà hoá ra chân tay mụ Dạ Dân¹
Cành lù xù hoá ra đầu mụ Dạ Dần
Cành thia lia hóa ra tai, ra mắt mụ Dạ Dần
Cành sừng sững hóa ra ngực, ra lưng mụ Dạ Dần

Chú thích (tr. 21)
1. Nữ thần, dạy dân cách làm ăn.

tr. 22

Mụ Dạ Dần
Miệng hay đòi ăn cá
Dạ hay đòi ăn cơm
Miệng nói lời dạy bảo
Dạ nghĩ điều khôn ngoan
Mụ ở dưới đất nên thấp
Muốn cất lên trời cao cao
Mụ ăn, mụ đẻ
Mụ đẻ ra hai trứng
Một trứng nở ra Cun¹ Bướm Bạc
Một trứng nở ra Cun Bướm Bờ
Cun Bướm Bạc vừa nở
Đã ăn chín chõ cơm²
Người lớn bằng cái thúng³
Cun Bướm Bờ mới sinh
Đã ăn hết năm chõ xôi
Người lớn bằng cái nia⁴
Năm tháng qua
Hai anh em cao hơn đụn chín, đụn mười⁵
Tiếng cười như tiếng trống cái
Tiếng nói như tiếng sấm vang
Xương vai dài tầm mươi lóng
Xương ống dài bảy trăm gang
Có tướng làm đạo, làm cun, làm lang
Một năm vua Trời cho con gái xuống chơi qua

Chú thích (tr. 22)
1. Cun: chức vụ cao của người Mường.
2. Mỗi chõ tương đương 5kg gạo.
3. Đường kính của thúng thông thường bằng 0,70m dùng đựng thóc,
4. Đường kính của nia thường bằng 1,10m, dùng sấy thóc.
5. Chiều cao của đụn khoảng 3m, dùng đựng thóc.

tr. 23

Ba năm vua Trời cho con gái xuống thăm lại
Con gái Trời gọi là Tiên
Tiên xuống trần đi chơi bông chơi hoa
Một sáng Tiên xuống cành mây mưa
Một trưa Tiên xuống cành mây gió
Tiên bay xuống tắm
Tắm bờ sông Tằm sông Tè
Ả Tiên đi ra đường rộng
Ả Tiên đi xuống đường quang
Thấy cun Bướm Bạc
Thấy chàng Bướm Bờ
Chàng cươi ngựa vàng
Thấy chàng Bướm Bạc
Thấy cun Bướm Bờ
Cun cưỡi ngựa trắng
Nàng ả, nàng hai muốn hỏi thăm đường
Còn nghe nể con trai
Liền tránh lại một mé
Ké sang một bên
Cho ngựa ngài đi tới
Hai cun đi hẳn
Gặp được bà nàng con mái
Thấy người lạ muốn hỏi
Thấy người đẹp muốn ướm lời
Rằng:
Người ở đất mường nào
Mà đẹp dáng, đẹp người, lưng ong, tóc mượt
Cun em giật cương cho ngựa dừng lại
Cun anh kéo cương cho ngựa dừng đi
Cùng mở lời chào:

tr. 24

- "Các nàng ở đất mường nào
Mà qua rừng nhà tôi một sớm
Cho đất mường tôi tốt thêm lộc nuôi tầm
Mà các nàng đến thăm
Cho rừng dâu nhà tôi xanh kín lá
Cho suối lắm cá nhiều tôm
Cho con sao Hôm về chậm
Cho con sao Mai đến nhanh
Cho con chim nhảy nhót hót trên cành
Hót lời thương lời nhớ
Chị em nghe lời đó,
Cùng giục nàng á nàng hai:
- "Hai chàng thưa chào
Chào ta như sao thức sao
Ta mất lòng nào mà chưa lên tiếng
Ra mà thăm mà nhìn
Ra mà chào mà thưa
Nghe thấy vui vui thì hãy đứng lâu
Nghe thấy ma cậu, ma cô thì đi ngay bõ ghét.
- "Nàng à nàng hai
Đi ra đường cái.
Đi lại đường con đứng đợi
Nàng ả nàng hai
Bước ra cúi đầu thưa lại:
- "Thưa ngài cun cả
Thưa ông cun hai
Chị em đâu dám tìm đường lần tránh
Chị em muốn về mường Đủ, mường Khói
Lạc lối bước đến vườn nhà ngài
Hai ngài mở lòng thương cùng

tr. 25

Thì cho chúng em vài tiếng nói.
Cun Bướm Bạc nói rằng:
Các nàng đã quá chân về đây
Đã nhúng chân vào đất nghèo
Chẳng ngại đất khô bám dính
Xin bước chân về giếng
Xin quá chân về nhà
Đất khó, mường nghèo
Nhưng ngõ còn thông thống.
Nàng a đi xuống
Cun Bướm Bạc dắt ngựa đi xuống
Nàng hai bước ra
Cun Bướm Bờ dắt ngựa đưa ra
Ở trên đỉnh núi đá Voi Nằm
Còn gọi là đỉnh Non Tiên
Hàng ngàn chị em đã nóng lòng đợi hai chị
Càng đợi càng lâu
Càng lâu càng vắng
Lắng chị càng bặt tăm
Trống nhà Trời đã điểm canh năm
Trống nhà Trời đã báo giờ cấm
Đành lòng hai chị vắng
Các tiên nàng vội vã về nhà Trời
Chị em lúc đi đông đủ
Lúc về bỏ lại hai
Cửa con, trời đã cài
Cửa lớn, trời đã đóng
Nàng a, nàng hai
Tai nghe cửa đóng sập
Tai lắng cửa cài then

tr. 26

Đành ở lại đây, nơi trần gian mường dưới
Cun Bướm Bạc lấy được nàng ả
Nên họ Lang
Cun Bướm Bờ lấy được nàng hai
Nên họ Dân
Chín tháng mười hai năm
Các nàng sinh con nối dõi
Thứ nhất, sinh ra cun Khổng Làng
Thứ hai, sinh ra cun Khổng Và
Thứ ba, sinh ra cun Khổng Tập, Khổng Tồi
Thứ tư, sinh ra cun Khổng Em, Khổng Anh
Thứ năm, sinh ra cun Khổng Lẫm, Khổng Lô
Thứ sáu, sinh ra cun Khổng May
Thứ bảy, sinh ra cun Khổng Lốt
Thứ tầm, sinh ra cun Chàng Vàng
Thứ chín, sinh ra lang Chàng Xế
Thứ mười, sinh ra Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót
Trống Chim Tùng
Mái Chim Tót
Là con út con yêu.
Lại kể chuyện Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót
Không có nơi ăn
Chẳng có nơi ở
Đậu cành dâu da, đứt cành dâu da
Bám dây Ta Tến¹, đứt dây Ta Tến
Chim Tùng, Chim Tót

Chú thích (tr. 26)
1. Thứ dây dùng để làm dây néo cày bừa.

tr. 27

Mưu ra nen để nuốt lá ngón cho chết
Chết đi cho đỡ khổ
Định ra rừng dang thắt cổ
Chết đi cho đỡ nhục đỡ thương
Ra đường quang, sân rộng
Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót
Gặp mụ Dạ Dần hay lo
Gặp mụ Dạ Dần hay thương hay bảo
Rằng:
- "Hai cháu đừng ra rừng mà sợ con gấu
Đừng vào thung mà sợ con cợp
Con mái thì tìm chỗ mát rỉa lông
Cho nên đá hang Trống¹
Con trống thì ra rỉa mỏ
Cho nên đá hang Hao
Đi đào đất cho nên sông sâu ruộng rộng
Cho có nơi mà ăn
Cho có nơi mà ở
Chớ đi liều thân mà khổ
Nghe lời mụ Dạ Dần
Con Mái đã ra rỉa lông
Con trống đã ra rỉa mỏ
Dã có nơi mà ăn
Đã có ngăn mà ở
Đã có chỗ chơi
Ban sáng chim đi xem
Mụ Dạ Dần dệt lụa
Buổi chiều chim đi xem

Chú thích (tr. 27)
1. Hang ở trời.

tr. 28

Mụ Dạ Dần dệt gấm
Lụa mụ Dạ Dần có chấy có rận
Gấm mụ Dạ Dần có bọ chó, bọ ma
Chim xem chim đã rõ
Chim ngó, chim đã tường
Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót
Về nhà học dệt lụa
Học dệt gấm
Lụa của Chim Tùng không có chấy có rận
Gấm của Chim Tót chẳng có bọ chó, bọ ma
Mụ Dạ Dần lại bảo:
- "Các cháu phải nghe
Con mái bay vào núi đá hang Trống
Đục lấy chín phiến đá
Con trống bay vào núi hang To
Đục lấy chín phiến đất
Đục thành hốc, thành lỗ
Con trống bay vào sông Cái
Cặp lấy chín nén có Bái
Con mái bay xuống sông con
Cống lây mười nén cỏ gianh
Về khoanh đi khoanh lại làm tổ
Tổ tròn như mặt trời
Tổ rộng như cửa sông
Miệng tổ cao như quả núi
Cuối tổ như mái nhà sàn
Đầu tổ như mái nhà trước
Đi vào phải nhẹ bước
Đi ra phải nhẹ chân
Đáy tổ to bằng miệng sông miệng bể

tr. 29

Được ngày, được tháng
Chim Tùng, Chim Tót vào hang vào ổ
Vào tổ đẻ trứng
Chín ngày, chín đêm, chín tháng
Được một nghìn chín trăm mười chín trứng tốt
Còn một trứng bảy góc, chín cạnh, mười khuông
Đó là trứng ung, trứng xấu
Chim Tùng ấp chín mươi ngày bặt tăm
Chim Tót ấp chín mươi ngày bặt tích
Trứng không hé không nở
Trứng không nở nên con
Chim Tùng, Chim Tót nổi giận hầm hầm
Đem trứng đi bỏ
Bỏ một trứng lên trời
Nở ra ông thần Chớp
Ném một trứng lên trời
Nở ra ông thần Mây
Ném một trứng dài dài
Nở ra nòi chuột chù
Ném một trứng to to
Nở ra nồi con lợn
Ném một trứng lùn lùn
Nở ra loài con voi
Ném một trứng loi ngoi
Nở ra nòi con cá
Ném một trứng vào lá
Nở ra nòi thú dữ trong rừng
Ném một trứng ra chuôm
Nở nên họ hàng cây cỏ
Ném một trứng lên đồi đất đỏ

tr. 30

Nở ra họ cây nứa
Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót
Tháng tư lại đi xem
Mụ Dạ Dần dệt lụa
Tháng ba lại đi xem
Mụ Dạ Dần dệt gấm
Dệt gấm dệt lụa chưa xong
Trống Chim Tùng, Mái Chim Tót đã mang trứng
Được ngày được tháng
Chim Tùng, Chim Tót lại vào ổ đẻ
Lại vào tổ ấp trứng
Ấp bốn mươi chín ngày bặt tăm
Ấp năm mươi ngày bặt tích
Được một trứng đen đen bốn khúc
Trứng bầu dục bốn khuông
Mặt vuông, mặt tròn chín cạnh
Rành rành mười hai quai
Trứng này là trứng "Giống", trứng "Dòng
Là nồi trứng nên ông, nên người
Chim Tùng, Chim Tót
Ra đường về tổ
Trả ổ cho mụ Dạ Dần
- "Trứng mụ đem cất.
Con mụ chăm nom
Mụ Dạ Dần chạy đi rao chín tiếng
- "Hỡi đất ma nhà trời
Hỡi chim côi chim góa
Ai bay vào hang Trống
Ấp cho nứt trứng

tr. 31

Ấp cho nở trứng Chiếng
Mai sau
Ta cho áo xống
Ta cho vàng bạc
Ta cho ruộng sâu
Ta cho ruộng mùa
Khi đó, ở đất ma nhà trời
Đất chim côi, chim góa
Có con Bìm Bịp lành lòng
Có con Công lành đuôi
Truyền tiếng truyền lời
- "Chúng tôi xin vào ấp
Nhưng không có lưng để mặc váy
Không có bụng để mặc áo
Chúng tôi không biết ăn cơm uống rượu
Nên không cần ruộng nương
Tháng tư cho chúng tôi được làm tổ nơi tốt
Tháng chín, tháng mười cho chúng tôi làm tổ ở nơi đẹp.
Lòng mụ Dạ Dần đã ưng
Chim Bịp, chim Công vào ấp
Ấp bốn tháng nghe nên biền biệt
Ấp chín tháng nghe nên mịt mù
Chim Bịp, chim Công
Vội trở về nhà
Mụ Dạ Dần lại đi rao:
Hỡi đất ma nhà trời
Hỡi chim côi chim góa
Có ai ấp trứng Pỏ
Nở trứng Chiếng
Mai sau
Muốn có quần áo ta cho quần áo
Sài

tr. 32

Muốn vàng bạc ta cho vàng bạc
Muốn ruộng sâu ta cho ruộng sâu
Muốn ruộng mùa ta cho ruộng mùa
Khi đó lại có chim Chiền Chiện
Bay qua nhà mụ Dạ Dần
Lên tiếng:
Chúng tôi xin vào ấp
Nhưng có lưng đâu mà mặc quần
Có bụng đâu mà mặc áo
Chúng tôi không biết ăn cơm uống rượu
Nên chăng lấy ruộng nương
Chúng tôi xin làm tổ nơi hay nơi đẹp
Lòng mụ Dạ Dần đã ưng
Chim Chiền Chiện hối hả bay vào ấp
Những buổi sáng
Con mái lấy cánh che mặt trời
Buổi chiều
Con trống lấy cánh bạc che mặt trời
Con mái lấy hòn đá đập giả
Con trống lấy ngọn lá đập hờ hở
Bồng thấy nứt trứng Pỏ
Nở trứng Chiếng
Nghe ồn ào tiếng Lào
Nghe lao xao tiếng Kinh
Nghe ình ình tiếng Mường
Nghe xôn xao tiếng Thái
Nghe hối hải tiếng Mán
Nghe nháo nhác tiếng Mẹo
Nghe léo xéo inh inh
Nghe tiếng nói tiếng cười
Trứng một - nở ra ông Dịt Dàng

tr. 33

Trứng hai - nở ra ông Lang Tà Cái
Trứng ba - nở ra lang Cun Cần
Trứng bốn - nở ra Bố Bướm Khang
Trứng năm - nở ra Xang Xí
Trứng sáu - nở nàng Vạ Hai Kịp
Trứng bảy - nở ra nàng Cằm
Trứng tám - nở ra cả chu chương mường nước
Trứng chín - nở dưa bạc tạng dứa lồi mắt
Trứng mười - nở ra con côi bà góa
Trứng mười một - nở đứa què hay trèo cây cọ
Trứng mười hai - nở đứa chột đứa đui
Như vậy:
Người "Trần gian" ai cũng sinh ra từ hang Trống
Lấy tiếng từ hang Hao
Hãy nghe tiếp chuyện sau
Hãy nhớ câu đàng trước
Truyền đi cho được
Cả mường cả nước đừng quên
Để nghe chuyện chia năm, chia tháng.

Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗