XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Đẻ đất đẻ nước

Text in Vietnamese

XIII. TÌM CƠM, TÌM LÚA

Contents ↑

Lang chưa có cơm để ăn no
Chưa có lúa để làm sang
Nhà Lang phải gọi mụ Dạ Dần
Cầm cho òng đi đào củ mài
Cho nhà lang đủ ăn
Làm nên bàn nên bữa.
Mụ già Rấp lập cập đi đào củ
Cố Mụ lụ khu đi đào củ mài
Tóc xác như tro bếp
Răng mòn đến lợi
Đào củ không còn bẻ nổi đầu
Hái rau không còn bê nổi sọt
Nước mắt chảy đầy áo
Nước mắt chảy đầy váy
Có con chuột đen trong ống
Nghe tiếng khóc giữa rừng
Chuột hỏi rằng:
- "Sao các mụ chẳng ăn cơm
Lại nằm co ro mà khóc
Già Rấp bèn nói:
- "Già không đau lưng, sưng cổ

tr. 55

Mà lo bữa ăn cho Lang Cun Cần chưa có
Chuột thưa rằng:
- "Có phải nhà Lang Cun Cần
Còn đói ăn khó ở
Chưa có cơm làm no
Chưa có lúa làm nên
Mường dưới mường trên
Nhà Lang còn nghèo, còn khó
Chưa vui đằng ở
Chưa mật mỡ đẳng ăn
Mụ nghe
Tôi nói cho mà làm
Các cố mụ thưa rằng:
- "Ơi chuột chuột
Mày nói điều hay, điều lành
Tao lắng tao nghe
Mày bày nơi có cơm, mày mách nơi có canh
Tao nghe, tao chịu.
Chuột lại nói:
- "Các cố mụ à
Ở núi Nàng Ả, Nàng Út¹
Có nàng Tiên Tiên Mái lúa
Còn thừa bốn mươi giống lúa ruộng
Ba mươi giông lúa rẫy
Tôi không nói dối
Nhà Lang cho người lên mà xin
Trời sáng rõ chưa lâu
Các cố mụ vào hầu Lang Cun Cần:
DO

Chú thích (tr. 55)
1. Thần giữ các giống cây, giống ngô, lúa.

tr. 56

- "Lang ơi, Lang hỡi
Chúng tôi vào rừng đi đào củ mài
Gặp con chuột vàng co ro trong ống nứa
Chuột biết nói, biết thưa
Nó thưa rằng: về bảo với nhà Lang
- "Đến nàng Út vua Tiên
Đến nàng Tiên Tiên Mái lúa
Xin lấy giống lúa ruộng, lúa rẫy
Mang về làm nôi
Xin về làm giống
Lòng Lang Cun Cần biết hay
Tay Lang Cun Cần nắm phải
Chạy vội ra mường
Đứng giữa mường kêu to lên rằng:
- "Binh ơi, mường ơi
Tận trên nhà nàng Tiên Tiên Mái la
Đủ bốn mươi giống lúa ruộng
Đủ ba mươi giống lúa rẫy
Phải đi, phải tới
Phải đến, phải xin
Hỡi mường dưới, mường trên
Chọn lấy người khéo miệng
Nói tiếng khôn tiếng lành
Binh mường
Hãy chọn nàng Dặt Cái Dành
Biết mẹo nói khôn
Khéo mồm nói phải
Lấy sọt bảy
Quảy gánh tre
Đi không đếm ngày
ĐỒ

tr. 57

Đến nhà trên xin giống lúa:
Đầu hôm
Nàng Dặt Cái Dành
Lên đến mặt trăng
Sáng ra
Luồn qua mặt trời
Lên đến đất mường Trời
Đến mùa nàng Á - Tiên Tiên Mái lúa
Men theo ruộng cửa
Qua thửa ruộng nhà
Qua bờ ao, bờ giếng
Vào đến rào đến giậu
Có chậu nước trong
Múc nước rửa chân
Bước lên thang
Vào trong gian nhà giữa
Nàng Tiên Tiên Mấi lúa
Dậy, đi rửa mặt sớm mai
Rửa tay buổi sáng
Ngó ra cửa sổ
Ngó xuông cửa thang
Thấy người chít khăn
Thấy nàng mang giỏ
Ngó kỹ mặt mày
Nhận ra nàng Dặt Cái Dành
- "!Ớ Dặt Cái Dành
Em đến chơi hay có công có việc

tr. 58

Dặt Cái Dành rằng:
- "Rêu chị, chị à
Gọi chị, chị ơi
Em chẳng đến chơi
Em đau đến nhói
Vì Lang Cun Cần nhà em
Làm Cun chưa sang
Em lên xin cơm
Để nhà lang ăn no
Em lên xin lúa
Để nhà lang làm nên
Nàng Tiên Tiên Mái lúa
Đưa thóc giống ra cho Dặt Cái Dành xem
Lúa củ lúa vàng
Lúa sang lúa dé
Lúa "ghé" nếp nghề
Nếp "trúng khe, chăm ốc
Đầu gối là nếp "củ ong
Dặt Cái Dành xin đủ giống tốt mang về
Về đến nơi Đồng Chì Tam Quan Kẻ Chợ
Nứa đêm vào tâu
Sáng ra vào hầu
Thưa lang
Tôi đã lấy được giống lúa
Mang đủ về cho lang
Lang Cun Cần trả lời:
- "Mường ơi

tr. 59

Lúa này ta ăn hay hết
Phải để làm giống
Lang Cun Cần đánh trống đánh công
Gọi mường nước đi chặt cọc đắp phai
Chặt cây đắp mương
Đắp thành bờ cả
Vỡ nên bờ mương
Đưa nước trên nguồn
Về khắp đồng cao, đồng thấp
Tháng bảy mài mại cây lúa non
Tháng tám lúa chửa đồng đòng
Tháng chín lúa trỗ
Tháng mười lúa chín đó
Rực rỡ đầy đồng, đầy nương
Bông cái bằng đuôi chó
Bông nhỏ bằng đuôi mèo
Gách về xếp đống đầy nhà
Lúa nếp ở xùm xoà
Lúa tẻ đầy ba gian nhà chái
Phơi nắng phải ba mươi ngày
Ban đêm phơi gác bếp
Xếp thóc đã nỏ
Bỏ vào cối xay
Quay đi ra rả
Trả lại rào rào
Vào nhà lấy sàng lấy nia
Sây la đi, ha lại
Đem bỏ vào cối đá

tr. 60

Lấy chày cây vả
Giã xuống giã lên
Sảy lượt thêm
Xem gạo trắng
Gạo như hột nắng
Trắng như hoa cau
Lang Cun Cần mừng mừng lắm lắm
Đây thật là của ăn sống người
Của vui trăm nghìn họ
Lúa nên trồng ruộng cả
Mạ nên trồng ruộng con
Truyền khắp bản mường
Cày cấy từ nay theo mùa theo vụ
Cất giữ lấy giống lúa cũ (lúa nếp)
Cất giữ lấy giống lúa chăm (lúa tẻ)
Ăn cơm quanh năm phải nhớ
Nhớ công Dặt Cái Dành.
Từ đó
Lang Cun Cần làm lang đã giàu, đã có
Lúa gạo đầy nhà
Con người từ đây, trở nên người biết lo, biết nghĩ.
Đời trước để lại đời sau
Chuyện này chuyển sang hồi khác

tr. 61

Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗