XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Đẻ đất đẻ nước

Text in Vietnamese

XXIV. GIẶC MA RUỘNG

Contents ↑

Toóng Ín chết biến nên cây cỏ
Được làm ma giữ đồng
Buôi sớm

tr. 163

Chàng giận Lang Cun Khương
Buổi chiều
Chàng giận Cun Tồi, Cun Tàng
Rằng:
Nói tiếng không giữ tiếng
Ăn lời chẳng giữ lời
Bảo: đẻ Toóng Ín chết một nơi
Cho ngồi giữ phần ruộng
Làm ma thiêng cho mưa kéo xuống
Làm ma ruộng để ăn cơm mới tháng mười
Bây giờ đã chín lần cơm ruộng
Đã bảy lần cơm nương
Không thấy nhà lang cúng kiếng
Cun Khương không màng
Cun Tàng không cúng
Cun Tồi không khói xuống
Làng nước không khói hương
Toóng Ín tủi hờn
Mặt đó hăng hăng
Chân đi dữ dữ
Đội mũ bảy mào
Vác dao chín lưỡi
Đi chặt xác con Cun Tồi, Cun Tàng
Dì xé lòng Lang Cun Khương
Toóng Ín xăm xăm bước vào đồi bái
Hối hối bước về đồi nhà
Gọi ba hồn Cun Tồi
Gọi bảy vía Cun Tàng
Vía ở đâu ra chịu ăn roi giang
Chịu mang hèo tre, hèo hóp

tr. 164

Chịu đáng mười chín roi mây
Rồi Toóng Ín ngồi trên ngọn cây tre sau nhà
Chân gác lên cây đa sau cửa
Lính đầu đen vây kín cầu thang
Hỗ cun ra
Là cho lính đánh
Lính Toóng Ín kéo đặc như cỏ
Cản gió đùng đùng
Nhằm ngõ nhà lang mà đi, mà đến.
Có đứa lính cai cả
Có đứa ở cai hầu
Đứng ở chân cầu
Nó nghe tiếng hú
Nghe tiếng ồn ồn
Nghe ma reo dữ dữ
Ngó thấy ma lố nhố
Súng ná nghênh ngang
Bỏ chạy vội về dinh Cun Tàng
Sang nhà Cun Khương, Cun Tồi
Cun Tồi hỏi:
- "Mày gặp cáo, đụng hùm
Hay no cơm say rượu
Sao phải chạy lăng xăng
Cun Khương nói:
- "Mày bị ong khoái, ong bò đuổi đốt
Trông mặt mày hoảng hốt mà ghê
Cun Tàng lại hỏi:

tr. 165

Mày bị ai chửi, ai chê
Mày bị ai đe, ai dọa
Mà mắt trắng dại dại
Mà má trắng bời bời
Lúc ấy,
Đứa lính cai cả
Đứa ở cai hầu
Chắp tay, vội tâu
Kể từng sự việc
Nghe xong, Cun Tàng hỏi:
- "Có giặc mường trên kéo đến
Hay mường dưới kéo về
Cun Tồi hỏi:
- "Giặc nào thì giặc
Cứ ra ngó xem
Lấy binh ra che, ra đỡ
Ta chẳng phải đất khó
Ta không phải làng nghèo
Mà phải thua, phải thiệt
Lúc ấy
Chớp giật nên lũ
Sét phá nên mưa
Người đi ra phải khóc
Cây mốc bị giập
Gà ấp phải sương
Nai đi bỏ đường ăn lá
Rái cá theo hầu
Con bò, con trâu không chịu thở
Cây cỏ chẳng làm cành
Cái nổi, cái xanh không làm quai

tr. 166

Lang Cun Khương đoán biết:
- "Chẳng phải ma gì
Không phải ma ngoài giặc lạ
Chính là Toóng Ín làm giặc
Nó làm giận làm dữ
Nó đánh trả đánh trêu
Ới binh mường
Hãy mau mau đẹp yên
Chặn quân trên rừng tràn xuông
Đánh tan giặc ma ruộng tràn về
Lúc ấy
Toóng Ín cho tướng rắn đi theo
Tướng rắn chạy về vội bảo:
- "Ông ơi, ông à
Nhà lang Cun bày rượu
Nhà quan mặc quần áo vội vàng
Binh mường đến ùn ùn
Dân mường đến lũ lũ
Lập tức
Toóng Ín thúc quân ma đi vội
Hội ma binh mau mau
Cắt cử:
Lũ ma đỏ ăn sáng
Di đánh phía mặt trời mọc
Lũ ma có nọc ăn trưa
Đi đánh phía mặt trời lặn
Ma rắn đánh vào phía ngoài cửa
Ma lửa đánh vào phía rừng
Ma mỏ vàng đánh vào sân
Ma tầm chân trèo lên đánh nóc

tr. 167

Từ cửa đánh vào
Chặt đầu chém cổ
Đứa ở mặc đứa ở
Kẻ hầu mặc kẻ hầu
Đụng đứa nào, chặt đầu đứa ấy
Để nhà lang biết thân
Lo nuôi thân, giữ mường nên yên ấm
Khi ấy
Bên nhà lang
Quân Cun Khương kéo đi ra rà
Cắt Cun Tồi giữ vườn
Cắt Cun Tàng giữ chặng
Đến đêm đụng lính Toóng Ín giữa ruộng
Rạng ngày mới đánh nhau
Rừng cây đổ ào ào
Khói đen cuộn cao, cuộn thấp
Toóng Ín đuổi Lang Cun Khương
Ra giữa rừng cây sến
Đến bến sông Rồng
Lang Cun Khương quay lưng đánh trả
Toóng Ín dập dồn trăm roi
Cun Khương đánh dài trăm giáo
Toóng Ín toạc quần rách áo
Chân vấp cây ngã dồn
Lang Cun Khương bị rắn quấn chân
Múa giáo đầm ngang, đâm dọc
Thọc giáo, vừa gạt, vừa phang
Toóng Ín bỗng lăn quàng xuống nước
Lang Cun Khương muốn đuổi muốn vượt
Đứa hầu bảo: "Rượt chẳng nên

tr. 168

Để Toóng Ín được sống
Nó bỏ kiếm làm mà giữ ruộng
Đã lặn xuống với vua Long Vương
Lang Cun Khương đưa bình về mường
Cun Tồi, Cun Tàng ra chào, ra đón
Hãy nghe chuyện Toóng Ín đi xuống
Ở mường Thủy phủ Long Vương

Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 41, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000; tr. 7–180. Chủ tịch hội đồng biên tập: Đinh Gia Khánh; chủ biên tập 41: Đặng Nghiêm Vạn; sưu tầm – biên soạn: Đặng Văn Lung, Lương Ninh. Bản được giới thiệu: Đặng Văn Lung, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân giới thiệu, Viện Văn học chủ trì, 1988. Source and reading edition ↗