01 · 鴻龐氏傳 — Truyện họ Hồng Bàng
Contents ↑Phiên âm Hán–Việt
Viêm Đế Thần Nông thị tam thế tôn Đế Minh, sinh Đế Nghi, nam tuần thú chí Ngũ Lĩnh, đắc Vụ Tiên chi nữ, nạp nhi quy. Sinh Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh túc thành. Đế Minh kỳ chi, sử tự vị. Lộc Tục cố từ, nhượng kỳ huynh. Nãi lập Nghi vi tự, dĩ trị thử [bắc] địa. Phong Lộc Tục vi Kinh Dương Vương, dĩ trị nam phương, hào vi Xích Quỷ quốc. Kinh Dương Vương năng hành thủy phủ (nhất tác nhập thủy), thú Động Đình Quân Long Vương nữ, sinh Sùng Lãm, hào vi Lạc Long Quân, đại trị kỳ quốc. Kinh Dương Vương bất tri sở chi (nhất tác chung). Lạc Long Quân giáo dân canh giá nông tang, thủy hữu quân thần tôn ti chi đẳng, phụ tử phu phụ chi luân. Hoặc thời quy thủy phủ, nhi bách tính yến nhiên vô sự, bất tri sở dĩ nhiên giả. Dân hữu sự tắc dương thanh hô Long Quân viết: “Bố hô hà tại (Việt tục hô phụ viết Bố)? Bất lai dĩ hoạt ngã ta.” Long Quân tức lai, kỳ hiển linh cảm ứng, nhân mạc năng trắc.
Đế Nghi truyền tử Đế Lai, dĩ bắc phương thiên hạ vô sự, mệnh kỳ thần Xi Vưu đại thủ quốc sự, nhi nam tuần Xích Quỷ quốc. Thời Long Quân dĩ quy thủy phủ, quốc nội vô chủ. Đế Lai nãi lưu kỳ ái nữ (nhất tác thiếp) Âu Cơ dữ chúng thị tỳ cư hành tại, chu hành thiên hạ, biến lãm hình thắng (nhất tác thế). Kiến kỳ hoa dị hủy, trân cầm dị thú, tê tượng đại mạo, kim ngân tiêu quế, thạch nhũ trầm đàn, sơn hào hải vật, vô vật bất hữu. Hựu tứ thời khí hậu, bất hàn bất nhiệt. Đế Lai nãi ái mộ chi, nhạc nhi vong phản.
Nam phương chi dân, khổ bắc phương phiền nhiễu, bất đắc an điềm như sơ, nãi tương suất hô Long Quân viết: “Bố hô hà tại? Sử bắc chi xâm nhiễu phương dân!” Long Quân thúc nhiên nhi lai. Kiến Âu Cơ dung mạo kỳ dị, Long Quân duyệt chi, nãi hóa tác hảo nhi lang, phong tư tú lệ, tả hữu tiền hậu thị tòng giả chúng, hành ca cổ xuy, đạt vu cung trung, Âu Cơ duyệt tòng Long Quân, tàng vu Long Đại nham.
Đế Lai hoàn hành tại, bất kiến Âu Cơ. Mệnh quần thần biến tầm thiên hạ. Long Quân sự thần thuật, biến hiện vạn đoan: yêu tinh quỷ mị, long xà hổ tượng. Tầm giả úy cụ, bất cảm sưu sách, Đế Lai nãi hoàn.
Tái truyền chí Đế Du Võng, Xi Vưu tác loạn, Hiên Viên suất chư hầu binh chiến bất khắc. Xi Vưu thú hình nhân ngữ, dũng mãnh hữu gia. Hoặc giáo Hiên Viên dĩ thú bì cổ vi lệnh chiến chi, Xi Vưu nãi kinh, bại vu Trác Lộc. Đế Du Võng xâm lăng chư hầu, dữ Hiên Viên chiến vu Bản Tuyền, tam chiến nhi bại. Giáng phong vu Lạc Ấp, tử chi. Thần Nông thị toại vong.
Long Quân dữ Âu Cơ cư kỳ niên nhi sinh nhất bào, dĩ vi bất tường, khí chư nguyên dã. Quá lục, thất nhật, bào trung khai xuất bách noãn, nhất noãn sinh nhất nam, nãi thủ quy nhi dưỡng chi. Bất lao nhũ bộ, các tự trường thành. Tú lệ kỳ dị, trí dũng câu toàn, nhân nhân úy phục, vị kỳ phi thường chi triệu. Long Quân cửu cư thủy quốc, huynh đệ mẫu tử độc cư, tư quy bắc quốc. Hành chí cảnh thượng, Hoàng Đế văn chi cụ, phân binh ngự tắc ngoại. Mẫu tử bất đắc quy, hồi Nam quốc, hô Long Quân viết: “Bố hô hà tại, sử ngô mẫu tử quả cư, nhật dạ bi thương.” Long Quân hốt lai, ngộ vu khoáng dã. Âu Cơ viết: “Thiếp bổn bắc quốc nhân, dữ quân tương xử, sinh bách nam. Bất đồng cúc dục, sử vô phu vô phụ chi nhân, đồ tự thương nhĩ.” Long Quân viết: “Ngã thị long chủng, thủy tộc chi trường; nhĩ thị tiên chủng, địa thượng chi nhân. Tuy âm dương khí hợp nhi hữu tử, nhiên thủy hỏa tương khắc, chủng loại bất đồng, nan dĩ cửu cư. Kim tương phân biệt, ngô tương ngũ thập nam quy thủy phủ, phân trị các xứ. Ngũ thập nam tòng nhữ cư địa thượng, phân quốc nhi trị. Đăng sơn nhập thủy, hữu sự tương văn, vô đắc tương phế.” Bách nam thính tòng, nhiên hậu từ khứ.
Âu Cơ dữ ngũ thập nam cư Phong Châu (kim Bạch Hạc huyện thị dã), tự tương thôi phục, tôn kỳ hùng trường giả vi chủ, hào viết Hùng Vương, quốc hào Văn Lang quốc. Đông giáp Nam Hải, tây để Ba Thục, bắc chí Động Đình hồ, nam chí Hồ Tôn Tinh quốc (kim Chiêm Thành thị dã). Phân quốc trung vi thập ngũ bộ (nhất tác quận): viết Việt Thường, viết Giao Chỉ, viết Chu Diên, viết Vũ Ninh, viết Phúc Lộc, nhật Ninh Hải (kim Nam Ninh xứ thị dã), viết Dương Tuyền (nhất tác hải), viết Lục Hải, viết Hoài Hoan, viết Cửu Chân, viết Nhật Nam, viết Chân Định, viết Văn Lang, viết Quế Lâm, viết Tượng Quận đẳng bộ, phân quy đệ trị chi. Trí kỳ thứ vi tương tướng, tướng viết Lạc hầu, tướng viết Lạc tướng, vương tử viết Quan lang, nữ viết Mỵ nương, bách tư viết Bồ chính, thần bộc nô lệ viết Sảo xưng (nhất tác nô tỳ), thần viết Khôi. Thế thế dĩ phụ truyền tử, viết Bố đạo. Thế thế tương truyền, hào vi Hùng Vương, nhi bất dịch.
Thời lâm lộc chi dân ngư vu thủy, vãng vãng vi giao long sở hại, ngôn vu vương. Vương viết: “Sơn man chi chủng dữ thủy tộc thật thù, bỉ hảo đồng ác dị, cố tương xâm hại.” Lệnh nhân dĩ mặc thứ họa kỳ thân, vi Long Quân chi hình, thủy quái chi trạng, tự thị dân miễn giao thương chi tai. Nhi Bách Việt văn thân chi tục, thật thủy vu thử.
Quốc sơ, dân dụng vị túc, dĩ mộc bì vi y (nhất tác kỳ), chức gian thảo vi tịch, dĩ mễ trấp (nhất tác chỉ) vi tửu, dĩ lang quang tông đồng vi phạn (nhất tác ẩm), cầm thú ngư miết vi giam, khương căn vi diêm, đao canh hỏa chủng, địa đa nhu mễ, dĩ trúc đồng xuy chi. Giá mộc vi ốc, dĩ tị hổ lang chi hại. Tiễn đoản kỳ phát, dĩ tiện sơn xuyên chi nhập. Tử chi sinh dã, dĩ tiêu diệp ngọa chi; nhân chi tử dã, dĩ xử thung chi. Lệnh lân nhân văn đắc lai cứu. Vị hữu tân lang, nam nữ giá thú, dĩ diêm phong vi tiên, nhiên hậu sát ngưu dương dĩ thành lễ. Dĩ nhu phạn nhập phòng trung, tương thực tất, nhiên hậu giao thông. Cái bách nam, nãi Bách Việt chi thủy tự dã.
Dịch nghĩa
Cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi. Khi đi tuần thú phương Nam tới dãy Ngũ Lĩnh, gặp được con gái nàng Vụ Tiên, bèn lấy đem về. Sinh ra Lộc Tục, dung mạo đoan chính, thông minh sớm thành. Đế Minh lấy làm kỳ lạ, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục khăng khăng từ chối, nhường lại cho anh. Vua bèn lập Đế Nghi làm người nối dõi, để cai trị phương [Bắc] này. Lại phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, để cai trị phương Nam, đặt quốc hiệu là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ (có bản chép là lặn xuống nước), cưới con gái Long Vương hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm, hiệu là Lạc Long Quân, thay cha cai trị nước. Kinh Dương Vương về sau không biết đi đâu (có bản chép là không biết kết cục ra sao). Lạc Long Quân dạy dân cày cấy trồng dâu nuôi tằm, bắt đầu có tôn ti trật tự vua tôi, có luân thường đạo lý cha con vợ chồng. Đôi khi Long Quân trở về thủy phủ, mà trăm họ vẫn yên ổn vô sự, chẳng ai hay nguyên cớ vì sao. Dân hễ có việc thì cất tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi ở đâu (tục người Việt gọi cha là Bố)? Sao chẳng đến cứu sống chúng con.” Long Quân liền đến ngay, sự linh hiển cảm ứng của ngài, người đời không sao lường được.
Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai. Nhân lúc thiên hạ phương Bắc thái bình vô sự, Đế Lai sai bầy tôi là Xi Vưu thay mình trông coi việc nước, còn tự mình tuần du xuống phương Nam vào nước Xích Quỷ. Bấy giờ Long Quân đã về thủy phủ, trong nước không có người chủ quản. Đế Lai bèn lưu con gái yêu (có bản chép là nàng thiếp yêu) tên là Âu Cơ cùng đám thị tỳ ở lại hành tại, rồi đi khắp thiên hạ xem ngắm non sông hình thế (có bản chép là xem ngắm phong thế). Thấy hoa thơm cỏ lạ, chim quý thú hiền, sừng tê ngà voi đồi mồi, vàng bạc hồ tiêu quế chi, thạch nhũ trầm hương chiên đàn, sơn hào hải vật, không vật gì là không có. Lại thấy khí hậu bốn mùa không lạnh không nóng. Đế Lai sinh lòng yêu thích mến mộ, vui thú mà quên cả ngày về.
Dân phương Nam khổ vì quân phương Bắc quấy nhiễu, không được yên ổn như xưa, bèn cùng nhau gọi to Long Quân rằng: “Bố ơi ở đâu? Để cho giặc Bắc đến xâm nhiễu dân làng!” Long Quân thoắt cái đã hiện đến. Thấy nàng Âu Cơ nhan sắc kiều diễm khác thường, Long Quân sinh lòng yêu thích, bèn hóa làm một chàng trai tuấn tú, phong tư tuấn nhã, kẻ hầu người hạ trước sau rất đông, vừa đi vừa hát múa đàn sáo tiến thẳng vào trong cung. Âu Cơ bằng lòng thuận theo Long Quân, được giấu ở động Long Đại.
Đế Lai trở về hành tại, không thấy Âu Cơ đâu. Bèn hạ lệnh cho quần thần đi khắp thiên hạ tìm kiếm. Long Quân dùng thần thuật biến hiện muôn hình vạn trạng: khi là yêu tinh ma quỷ, khi là rồng rắn hổ voi. Kẻ đi tìm sợ hãi kinh hoàng, chẳng ai dám sục sạo tìm kiếm nữa, Đế Lai đành phải trở về phương Bắc.
Sau lại truyền đến đời Đế Du Võng. Bấy giờ tôi tớ cũ là Xi Vưu dấy loạn, Hiên Viên đem quân các nước chư hầu đến đánh mà không thắng nổi. Xi Vưu mình thú tiếng người, dũng mãnh muôn phần. Có người bày cho Hiên Viên lấy da thú căng làm mặt trống phát lệnh giao chiến, Xi Vưu kinh sợ, bị thua to ở đất Trác Lộc. Đế Du Võng lấn áp các nước chư hầu, cùng Hiên Viên giao tranh ở Bản Tuyền, đánh ba trận đều thua. Vua bị giáng phong ở đất Lạc Ấp rồi mất tại đó. Họ Thần Nông từ đấy dứt dòng.
Lại nói Long Quân ở cùng Âu Cơ giáp một năm thì sinh ra một bọc. Cho là điềm chẳng lành, bèn vứt ra chốn đồng nội hoang vu. Qua sáu, bảy ngày sau, trong bọc mở ra nở được trăm quả trứng, mỗi trứng sinh một con trai, bèn đón đem về nuôi nấng. Không cần bú mớm nhọc nhằn mà đứa nào cũng tự lớn lên. Mặt mày khôi ngô kỳ dị, trí dũng vẹn toàn, ai nấy đều kính phục, cho là điềm báo phi thường. Long Quân sống lâu dưới thủy quốc, mẹ con anh em ở trên cạn vò võ một mình, sinh lòng nhớ phương Bắc. Cùng nhau đi đến bờ cõi biên giới, Hoàng Đế phương Bắc nghe tin lấy làm sợ hãi, bèn chia quân chốt giữ ngoài cửa ải. Mẹ con không thể về Bắc được, đành quay về cõi Nam, cất tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi ở đâu, để mẹ con thiếp chịu cảnh cô đơn, ngày đêm sầu muộn.” Long Quân thoắt chốc hiện đến, gặp nhau chốn đồng không nội cỏ. Âu Cơ nói: “Thiếp vốn người phương Bắc, cùng chàng chung sống sinh được trăm con trai. Chẳng cùng nhau nuôi nấng, để thiếp chịu cảnh người không chồng không vợ, luống chịu sầu đau.” Long Quân nói: “Ta là giống rồng, đứng đầu loài thủy tộc; nàng là giống tiên, người ở trên cạn. Tuy khí âm dương hòa hợp mà sinh con, nhưng tính nước lửa tương khắc, giống loài khác nhau, khó lòng chung sống dài lâu. Nay phải chia tay, ta đem năm mươi người con về thủy phủ, chia nhau cai quản các nơi. Năm mươi con theo nàng ở lại trên đất liền, chia nước mà trị. Leo núi xuống nước, có việc gì thì báo tin cho nhau biết, chớ có bỏ rơi nhau.” Trăm con trai vâng theo lời dặn, rồi từ biệt nhau ra đi.
Âu Cơ cùng năm mươi người con ở lại đất Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc vậy), tự cùng nhau suy phục, tôn người anh cả hùng dũng làm chủ, gọi hiệu là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang. Phía đông giáp biển Nam Hải, phía tây tới đất Ba Thục, phía bắc tới hồ Động Đình, phía nam tới nước Hồ Tôn Tinh (nay là nước Chiêm Thành vậy). Chia trong nước làm mười lăm bộ (có bản chép là mười lăm quận): gọi là Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải (nay là miền Nam Ninh vậy), Dương Tuyền (có bản chép là Dương Hải), Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng Quận. Các bộ ấy chia cho các người em cai quản. Lại đặt các bậc thứ bậc làm tướng văn tướng võ, tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mỵ nương, trăm quan lại thuộc các bộ gọi là Bồ chính, tôi tớ nô tỳ gọi là Sảo xưng (có bản chép là nô tỳ), bề tôi gọi là Khôi. Đời đời cha truyền con nối, gọi là Bố đạo. Đời đời nối ngôi đều xưng hiệu là Hùng Vương, không thay đổi.
Bấy giờ dân miền ven rừng đánh cá dưới nước, thường hay bị loài giao long làm hại, bèn đem việc ấy thâu lên vua. Vua nói: “Giống sơn man cùng loài thủy tộc vốn khác nhau, chúng thích giống mình ghét khác loài, nên mới tương hại.” Liền truyền lệnh cho người lấy mực châm vẽ vào mình thành hình Long Quân cùng hình dạng các loài thủy quái. Từ đó dân không còn bị họa giao long cắn hại nữa. Tục xăm mình của người Bách Việt thực sự bắt đầu từ đấy vậy.
Thuở đầu dựng nước, đồ dùng của dân chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo (có bản chép làm khố), dệt cỏ gian làm chiếu, lấy nước cốt gạo (có bản chép là bã rượu) ủ làm rượu, lấy cây quang lang tông đồng làm cơm (có bản chép làm thức uống), bắt cầm thú tôm cá ba ba ướp làm mắm, lấy củ gừng làm muối. Lối làm ruộng theo kiểu đẵn cây đốt rẫy đao canh hỏa chủng, đất có nhiều gạo nếp, lấy ống tre mà thổi cơm. Dựng nhà sàn bằng cây gỗ để tránh loài hổ sói làm hại. Cắt tóc ngắn để tiện vào rừng lội suối. Đẻ con ra thì lót lá chuối cho nằm; người chết thì lấy chày giã cối để hàng xóm nghe tiếng chạy đến cứu. Thuở ấy chưa có quả trầu cau, trai gái cưới xin lấy gói muối làm tin hàng đầu, rồi sau mới mổ trâu mổ dê làm lễ. Đem cơm nếp vào trong buồng cùng nhau ăn hết, rồi sau mới hợp cẩn giao hoan. Trăm người con trai ấy, chính là thủy tổ tế tự của trăm họ Bách Việt vậy.
Chú thích
- Dĩ trị thử [bắc] địa (以治此〔北〕地): Nguyên bản viết chữ thử (此 - này), người hiệu đính sửa thành chữ bắc (北 - bắc) để đối ứng với câu sau: "Phong Lộc Tục vi Kinh Dương Vương, dĩ trị nam phương".
- Bố hô hà tại (Việt tục hô phụ viết Bố): Lời ghi chú ngữ âm tiếng Việt cổ quan trọng ghi lại từ "Bố" (cha/cha già) dùng để xưng hô với đấng sinh thành và vị thủ lĩnh tối cao Lạc Long Quân.
- Thập ngũ bộ: 15 bộ của nước Văn Lang thời cổ theo truyền thuyết, bao quát vùng cương vực rộng lớn từ Lĩnh Nam đến bờ cõi phía Nam.
- Lạc hầu, Lạc tướng: Chữ Lạc viết là 貉 (vốn đọc là Hạc/Mạch, nhưng truyền thống Hán–Việt tại Việt Nam luôn đọc là Lạc trong Lạc Long Quân, Lạc hầu, Lạc tướng, chim Lạc).
- Bố đạo (逋導): Tục truyền ngôi cha truyền con nối thời Hùng Vương.
- Quang lang, tông đồng: Tên các loại cây thuộc họ cau dừa rừng (cây búng báng, cây móc), thân có ruột chứa nhiều tinh bột người cổ nạo ra đồ chín làm thức ăn thay gạo.
Bản dịch tiếng Việt từ bản Hán văn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm hai quyển, lời tựa và 23 truyện. Bản Hán văn được lưu từ Wikisource tiếng Trung ngày 21/10/2026; chưa xác định bản chép nền. Source and reading edition ↗