XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Việt Huyền Sử Ký

Text in Vietnamese

Thánh Gióng

Contents ↑

Ở làng Gióng có hai vợ chồng già làm ruộng. Họ nghèo, nhưng không phải thứ nghèo phải đi xin: họ có một thửa ruộng, một con trâu, và một cái sân nhỏ đủ để phơi thóc. Sớm nào cũng vậy, khi sương còn đọng trên ngọn cỏ, hai người đã vác cuốc ra đồng; đến lúc sao Hôm lên mới về. Bụng dạ không lo gì, chỉ lo một việc: lấy nhau đã lâu mà chưa có con.

Hàng xóm nói ra nói vào. Bà lão không nói gì, chỉ lặng lẽ may quần áo trẻ con rồi gấp lại, bỏ vào đáy hòm.

Một buổi sáng mùa xuân, bà ra đồng cày. Đến thửa ruộng quen, bà khựng lại, vì trên nền đất phù sa ẩm có một vết chân người.

Vết chân ấy to gấp mấy chục lần chân người. Bà đứng nhìn rất lâu, rồi nâng vạt áo, đặt bàn chân gầy guộc của mình lên ướm thử. Vết chân rộng đến mức bao được cả hai bàn chân bà, và bà đứng trong đó một lúc, thấy vui vui.

Về nhà, bà mang thai. Chín tháng mười ngày sau, bà sinh được một cậu bé khôi ngô, mặt mũi sáng sủa như trăng rằm. Hai vợ chồng đặt tên con là Gióng.

Rồi mọi chuyện khác thường bắt đầu. Gióng nằm im trên chiếc chõng tre, ngày này sang ngày khác. Cậu không khóc, không cười, không lẫy, không bò. Đến tuổi biết nói thì cậu không nói; đến tuổi biết đi thì cậu không đứng lên. Mẹ bế cậu ra sân phơi nắng, cậu nằm nhìn trời; mẹ đặt cậu xuống võng, cậu nhìn mãi một chỗ trên mái nhà.

Hàng xóm lại nói ra nói vào. Có người bảo đứa bé sinh ra đã vậy thì lớn lên cũng vậy thôi. Bà lão lặng lẽ nghe, tối tối ngồi quạt cho con, và không nói với ai câu nào.

Năm thứ nhất. Năm thứ hai. Rồi năm thứ ba.

Đúng năm ấy, ở phương Bắc có giặc.

Người ta gọi chúng là giặc Ân. Chúng đi toàn bằng ngựa, yên ngựa bọc sắt, lưng đeo cung, tay cầm mã tấu, và chúng đi rất nhanh. Không ai biết chúng từ đâu tới. Chỉ biết rằng chúng không dựng trại, không giữ đất: cướp sạch một vùng rồi đốt, rồi lại kéo đi, và cứ thế đi dọc theo các con sông.

Tin đi trước giặc. Làng Gióng nghe tin, đào hầm chứa thóc, giấu con gái vào rừng, và chặt cây chắn ở đầu làng. Nhưng chắn bằng cây thì chắn được gì.

Vua Hùng sai sứ giả đi khắp nước. Sứ giả cưỡi ngựa, tay cầm dùi, gõ vào những chiếc chiêng đồng mang theo:

Boong... boong... boong...

"Nhà vua cần người ra dẹp giặc, cứu muôn dân."

Buổi trưa hôm ấy, tiếng chiêng vọng về đầu ngõ nhà Gióng. Bà mẹ đang ngồi quay tơ bên cửa, nghe thấy thì cúi mặt xuống. Còn cậu bé nằm trên chõng thì cựa mình.

Gióng ngồi dậy.

Đó là lần đầu tiên trong đời cậu tự ngồi lên. Rồi cậu nói, và giọng cậu không giống giọng một đứa trẻ lên ba — nó trầm và vang, nghe như có người đứng ngoài sân nói vào.

— Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.

Bà mẹ đánh rơi thoi cửi. Những người hàng xóm đang đứng ở đầu ngõ cũng dừng lại nhìn. Rồi bà chạy ra, mời sứ giả vào nhà, hai tay run đến mức không mở được nắp trầu.

Sứ giả vào. Gióng nhìn ông và nói tiếp, từng lời rành rọt:

— Ông về tâu với vua xin rèn cho con một con ngựa sắt, một bộ giáp sắt và một cây roi sắt. Con sẽ dẹp giặc.

Tin ấy đi về kinh đô còn nhanh hơn tin giặc.

Vua Hùng gọi tất cả thợ rèn trong nước lại. Họ đào quặng trên núi, đắp lò ở ven sông, và kéo bễ ngày đêm. Lửa trong lò bùng lên đỏ rực, tiếng búa nện xuống đe nghe như mưa đá. Hàng ngàn người thay phiên nhau thổi bễ, quai búa, dìm sắt nóng vào nước. Đến hôm thứ mấy thì không ai còn nhớ nữa; chỉ biết rằng khi xong, họ có một bộ giáp, một cây roi, và một con ngựa bằng sắt nặng đến mức phải mười hai người khiêng.

Trong lúc đó, ở làng Gióng, cả làng bắt tay vào một việc khác: nấu cơm.

Bà mẹ đã hết sức, nên hàng xóm gánh gạo đến. Nhà này một nong, nhà kia một vại cà. Gióng ăn một lúc hết một nồi, rồi khi đói lại ăn hết nồi tiếp theo. Áo vừa mặc vào, cựa một cái là đứt chỉ. Người trong làng cứ thay nhau gánh đến, không ai kịp hỏi bao giờ cho đủ.

Gióng ăn bảy nong cơm và ba nong cà. Rồi cậu đứng dậy, vươn vai một cái.

Người cậu dài ra, vai rộng ra. Chiếc chõng tre mà cậu nằm suốt ba năm gãy dưới chân cậu, và ở chỗ ấy đứng lên một tráng sĩ cao hơn mái nhà. Bà mẹ đứng dưới đất, phải ngước lên mới nhìn thấy mặt con.

Chiều hôm ấy, người ta khiêng giáp sắt, roi sắt và ngựa sắt đến. Gióng mặc giáp. Chàng cầm roi, bước tới bên ngựa, và vỗ một cái vào mông nó. Ngựa sắt hí lên, tiếng hí vang tới mấy ngọn núi đằng xa. Từ trong miệng nó phun ra một ngọn lửa đỏ, hầm hập như lửa lò rèn vừa mở cửa.

Chàng nhảy lên lưng ngựa. Ngựa tung vó, lao đi như một luồng sét, để lại sau lưng một vệt khói.

Đến mặt trận, chàng cúi người, vung roi sắt, và đánh thẳng vào giữa đội hình giặc.

Ngựa phun lửa xuống những dãy lều. Roi quật xuống, quân giặc ngã như lúa gặp mưa đá. Áo giáp sắt che cho chàng khỏi phần lớn những mũi tên; có một mũi lách qua được khe giáp và găm vào vai, nhưng chàng không dừng.

Tên chủ tướng giặc thấy vậy bèn thúc ngựa xông lên. Hắn to hơn những tên khác, cưỡi ngựa đen, và vung cây mã tấu dài bổ thẳng xuống đầu chàng.

Gióng đưa roi lên đỡ.

Rắc!

Cây roi sắt gãy làm đôi.

Chàng buông roi, gò ngựa quay lại, và nhìn quanh. Bên đường có một khóm tre. Tre đằng ngà, thân vàng óng, mọc chen vào nhau thành một bụi dày. Chàng nghiêng người, nhổ bật cả khóm tre lên khỏi đất, rễ còn nguyên đất sét, rồi cầm ngang như cầm một cây gậy.

Ngọn tre dài vừa tầm tay. Khi chàng quật xuống, nó kêu vút.

Tên chủ tướng bị quật trúng, văng mất mũ, quay đầu ngựa chạy trước. Lính giặc thấy tướng chạy thì cũng chạy, chạy theo đúng con đường chúng đã đi vào, và chạy cho đến khi không còn ai đuổi nữa.

Đánh xong, Gióng đứng lại một mình giữa cánh đồng.

Chàng cho ngựa đi lên núi Sóc. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn, mặt phẳng. Chàng xuống ngựa, cởi bộ giáp sắt ra, và đặt lại ngay ngắn trên tảng đá. Rồi chàng vỗ vào mông ngựa, nhảy lên, và cả hai cùng bay.

Người ở dưới nhìn lên. Họ thấy một người và một con ngựa nhỏ dần, nhỏ dần, rồi không còn là người với ngựa nữa, mà chỉ còn một điểm sáng.

Đêm hôm ấy, ở phía núi Sóc, có một vì sao mọc sớm hơn những vì sao khác.


Vè Thánh Gióng

Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè dẹp giặc.
Giặc Ân tàn ác,
Ngựa đen bọc sắt.
Cung tên, mã tấu,
Cháy cả làng bên.

Làng Gióng có người,
Ba năm nằm lặng.
Nghe tiếng chiêng vang,
Vươn vai đứng thẳng.
Bễ lò rực đỏ,
Búa nện chan chát!

Ngựa sắt phun lửa,
Áo giáp leng keng.
Roi sắt quật ngã,
Roi gãy chẳng sờn.
Nhổ tre đằng ngà,
Đánh giặc tan tành.
Trời nam thái bình,
Một sao mọc sớm.

Bản văn tiếng Việt được lưu trong thư viện. Chưa có thông tin tác giả hoặc ấn bản rõ ràng. Source and reading edition ↗