Sự tích Làng Gốm
Contents ↑Chiều ấy, nước sông rút xuống, để lộ ra một bãi bùn dài.
Mấy người đi làm đồng về, lội ngang bãi ấy cho gần. Được một quãng, họ dừng lại, vì dưới chân không phải bùn. Thứ ấy mịn hơn, trơn hơn, và dính vào ngón chân như có ai giữ lại.
Một người đàn bà cúi xuống, bốc một nắm lên, rồi vo tròn trong tay.
Chị vo được một hòn. Chị ấn ngón tay vào, hòn ấy lõm xuống. Chị đưa cho người bên cạnh vo thử; người ấy vo được một hòn khác, rồi ấn bẹp nó ra thành một cái đĩa con con.
Về đến nhà, ai cũng mang theo một ít. Mấy ngày sau, cả xóm ra bãi đào đất. Người ta gánh về, đổ thành đống ở góc sân, rồi ngồi nặn. Trẻ con nặn những con chim và những con cá; người lớn nặn bát, nặn nồi, nặn những cái chum to để đựng nước. Có người còn ấn một tấm ván lên khối đất cho phẳng rồi cắt thành từng viên vuông, xếp ra phơi như xếp bánh.
Xóm ấy vốn đang cần chum. Thóc gặt về chất đầy cót, nhưng muốn đựng nước thì chỉ có vỏ bầu khô và những khúc gỗ đục rỗng. Vỏ bầu thì va một cái là nứt; gỗ thì để lâu ngày bị mục, và nước ngấm vào gỗ thì có mùi. Ai cũng muốn có một thứ đựng được nước mà để yên một chỗ.
Nắng mấy ngày liền, sân nhà nào cũng đầy đồ đất: bát, nồi, chum, và những viên gạch vuông. Đồ đất khô đi, nhẹ đi, giữ nguyên hình dáng mà người ta đã nặn. Trẻ con đi học về, chạy qua sân, còn phải bước chéo để không giẫm lên chúng.
Rồi đến hôm đầu tiên có người gánh nước về đổ vào một cái chum.
Nước vừa vào, thành chum đã thẫm lại. Rồi nó mềm ra. Rồi nó xệp xuống, và chẳng mấy chốc chỗ ấy chỉ còn một vũng bùn, y như hôm đầu tiên bốc nó lên từ bãi sông.
Hôm sau, một trận mưa rào. Mưa đập xuống sân, và cả sân rã ra theo dòng nước chảy.
Người ta thôi nặn.
Rồi đến một hôm, nhà bên xóm làm cỗ. Họ đào một cái hốc ở góc sân để đặt nồi lên nấu, và lấy đất sét trát quanh thành hốc cho kín, để lửa không cháy vào chân cột. Nấu xong, nồi được bưng đi, tro được lấp lại.
Sáng hôm sau, một đứa trẻ trong nhà chạy ra sân chơi, đá phải thứ gì cứng dưới lớp tro. Nó cúi xuống, bới lên, và thấy một mảng đất đỏ, rắn như đá, cạnh sắc đến mức có thể cắt vào tay. Đó chính là chỗ đất sét hôm qua trát quanh hốc lửa.
Người lớn cầm mảnh đất lên xem, rồi nhìn nhau. Đất sét đã gặp lửa, và nó thành một thứ khác.
Mấy hôm sau, cả xóm nặn lại đồ đất. Nhưng lần này họ không phơi ở sân nữa. Họ đào một cái hố rộng, xếp đồ đất vào giữa, rồi chất củi chung quanh và lên trên, đủ để lửa bao kín tất cả.
Rồi họ châm lửa.
Lửa cháy một ngày một đêm. Người ta thay phiên nhau ngồi trông, vì đây là việc chưa từng làm, và không ai biết lúc nào thì được. Trẻ con bị đuổi đi ngủ nhưng cứ trốn ra ngồi ở rìa sân; đến đêm thứ hai thì củi đã thành than, mà cái hố vẫn còn nóng đến mức không ai dám lại gần.
Họ chờ.
Chờ hết đêm ấy, rồi hết một ngày, và thêm một ngày nữa. Người lớn bảo nhau đừng vội, kẻo nồi còn nóng mà mở ra thì vỡ hết. Đứa trẻ nào cũng hỏi một câu giống nhau: bao giờ thì mở.
Đến hôm thứ ba, đất đã nguội.
Một người lấy xẻng cào lớp đất trên cùng ra, rồi lấy tay bới. Người khác bới theo. Không ai nói gì, vì cả xóm đang đứng sau lưng.
Trong hố, đồ đất vẫn nằm nguyên từng chỗ như hôm xếp vào. Nhưng không cái nào còn giống cái nào hôm ấy: chúng đỏ hơn, và nhỏ hơn một chút, như đã co lại.
Một người nhấc một chiếc bát lên. Bát nguội, nhẹ, và cứng.
Người ấy gõ ngón tay vào thành bát.
Keng.
Tiếng kêu trong, ngân một lúc mới tắt. Đứa trẻ đứng gần nhất há miệng ra nhìn, rồi giành lấy chiếc bát, chạy ra bờ sông cho cả xóm xem như cầm một thứ gì rất quý.
Phải đến lúc nước được đổ vào một cái chum thì người ta mới tin.
Một người đàn bà gánh nước về, đổ đầy chum, rồi đứng nhìn. Nước dâng tới miệng chum; thành chum thẫm lại vì đã hút một ít nước, nhưng nó không mềm, không xệp, không rã. Nước ở trong chum vẫn còn nguyên, đầy tới miệng.
Người đàn bà ấy đứng nhìn rất lâu. Rồi bà thò tay vào, vốc một vốc nước lên uống.
Hôm ấy, nhà nào cũng thử đặt một cái nồi đất mới lên bếp. Nồi nóng lên, nước trong nồi sôi sùng sục, và không cái nào nứt.
Mấy hôm sau, người ta nặn nhiều hơn, nhưng nặn bằng tay thì cái nào cũng méo. Một người thợ mộc trong xóm — vốn quen làm những thứ tròn như bánh xe — nghĩ ra một cách: dựng một cái bàn gỗ tròn lên một cái trục, để nó quay được. Người nặn đạp nhẹ cho bàn quay, rồi áp hai bàn tay vào khối đất đặt giữa bàn.
Bàn quay chậm thì đất méo. Bàn quay đều thì đất tròn.
Từ đó, trong xóm có thêm một tiếng nữa: tiếng bàn gốm quay. Lúc đầu nó kêu kèn kẹt và dừng lại luôn; về sau, khi người ta đã quen chân, nó quay đều như tiếng thoi đưa ở xóm bên.
Những mẻ sau, người ta nung cả gạch và ngói. Gạch xếp lên nhau, trát bùn, thành tường; ngói xếp lên nhau thành mái. Mùa mưa năm ấy, mấy nhà đã lợp ngói không phải lấy chậu ra hứng dột, và đó là điều người trong xóm nói với nhau nhiều nhất.
Xóm thợ ấy về sau được gọi là làng gốm Thanh Hà.
Đêm nào cũng có một đám khói mỏng bốc lên từ bãi ấy. Trong xóm, người ta đã quen ngửi mùi đất chín.
Bùn sét ven sông,
Dẻo mềm, mát rượi.
Bàn xoay quay vội,
Đôi tay nhịp nhàng.Đắp củi, châm mồi,
Lò phừng phừng cháy.
Đất nung đỏ rực,
Gõ kêu keng keng!Ngói lợp êm đềm,
Chum vại đựng nước.
Thanh Hà vững bước,
Bên dòng sông Thu!
Bản văn tiếng Việt được lưu trong thư viện. Chưa có thông tin tác giả hoặc ấn bản rõ ràng. Source and reading edition ↗