XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Việt Huyền Sử Ký

Text in Vietnamese

Sự tích Trầu Cau

Contents ↑

Ở một làng ven sông có hai anh em mồ côi, tên là Tân và Lang.

Cha mẹ mất khi hai đứa còn nhỏ, nên chúng lớn lên bằng nhau: cùng ăn, cùng ngủ, cùng đi làm thuê cho người ta. Người trong làng khó phân biệt hai đứa, vì chúng giống nhau đến mức nếu đứng quay lưng lại thì người nhà cũng gọi nhầm. Một củ khoai thì bẻ đôi; một manh áo thì đứa nào lạnh hơn đứa ấy mặc.

Khi lớn, hai anh em đi tìm thầy học. Vị thầy ấy có một người con gái. Thầy nhìn hai học trò của mình mấy năm, thấy cả hai đều hiền lành và chịu khó, rồi quyết định gả con cho người anh. Đám cưới có cỗ, có rượu, và có tiếng cười. Mấy hôm sau, trong nhà chỉ còn ba người.

Từ đó, Tân bận hơn. Chàng lo ruộng, lo nhà, lo cho vợ. Đi làm về thì trời đã tối, cơm dọn ra thì chàng ăn vội rồi ngủ sớm để sáng còn dậy đi làm.

Lang ngồi cùng mâm với hai người. Không ai nói gì với nhau, nhưng bữa cơm bắt đầu ít tiếng hơn. Có hôm Lang ăn xong trước, đứng dậy, rồi ra ngoài ngồi ở bậc cửa cho đến khi trời tối hẳn.

Rồi một buổi chiều cuối thu, trời chạng vạng. Lang đi làm về trước. Chàng bước vào sân, mệt, quần áo còn ướt sương. Người chị dâu ở trong bếp ôm bó củi đi ra; trong bóng tối nhập nhoạng, thấy dáng người quen, nàng chạy lại ôm chầm lấy.

Đúng lúc đó, Tân vác cuốc bước vào cổng.

Ba người đứng im.

Rồi đèn được thắp lên. Ai cũng hiểu đó là nhầm lẫn, vì hai anh em giống nhau quá. Nhưng không ai nói ra được câu nào.

Đêm ấy, mâm cơm dọn ra từ sớm và để nguyên như vậy cho đến khi nguội.

Sáng hôm sau, chỗ nằm của Lang đã trống.

Lang đi về phía con sông lớn. Chàng đi hết một ngày, rồi một đêm, và không mang theo gì ngoài bộ quần áo đang mặc. Đến bờ sông thì chân đã rớm máu, nên chàng ngồi xuống nghỉ.

Chàng ngồi đó cho đến khi trời sáng. Rồi chàng nằm xuống. Chỗ chàng nằm về sau thành một khối đá trắng, cao dần lên bên bờ nước.

Sáng hôm ấy, Tân dậy và gọi em. Không có ai trả lời. Chàng đi khắp làng, hỏi từng nhà, rồi đi theo con đường mòn ra bờ sông. Đi mấy ngày thì chàng tới nơi, và thấy khối đá trắng nằm ở đó.

Chàng ngồi xuống bên cạnh khối đá. Sáng hôm sau, chỗ ấy mọc lên một cái cây thân thẳng, cao vút, chia thành từng đốt đều nhau, trên ngọn xòe ra những tàu lá dài.

Ở nhà, người vợ đợi. Nàng đợi hết buổi sáng, rồi buổi chiều, rồi mấy ngày. Đến khi không đợi được nữa thì nàng cũng đi tìm, và cũng theo con đường mòn ấy.

Nàng tới bờ sông vào một buổi chiều. Ở đó có một khối đá trắng và một cái cây cao. Nàng ngồi xuống, tựa lưng vào khối đá. Đến sáng, chỗ ấy mọc lên một dây leo nhỏ, lá hình trái tim, quấn quanh thân cây.

Người trong vùng đi qua, thấy ba thứ ấy mọc cạnh nhau thì dừng lại xem. Họ gọi khối đá là đá vôi, gọi cái cây là cây cau, và gọi dây leo là dây trầu.

Mấy năm sau, Vua Hùng đi tuần ngang qua đó. Ngài nghe người trong vùng kể lại chuyện ba người, rồi đứng nhìn ba thứ ấy một lúc. Ngài sai người hái một lá trầu, hái một quả cau, và đập ra một mẩu đá vôi.

Đêm ấy, ngài cho nung mẩu đá trong lửa. Sáng ra, nó đã bở ra thành một thứ bột trắng.

Ngài têm một miếng: lá trầu ở ngoài, một miếng cau, một chút bột trắng. Rồi ngài nhai.

Nhà vua nhai một lúc. Nước trầu đỏ dần.

Ngài nhìn ba thứ nằm cạnh nhau trên chiếc khay rất lâu.

Từ đó, trong các đám cưới, người ta têm trầu. Người têm khéo thì têm thành hình cánh phượng, xếp lên cơi, đậy lại, rồi đưa cho hai họ.

Trong cơi ấy, ba thứ nằm cạnh nhau: lá xanh, cau trắng, và một chút vôi.

Miếng trầu nhai ra thì đỏ.


Nghe vẻ nghe ve,
Nghe vè trầu cau.
Anh em thương nhau,
Hóa đá hóa cây.
Vợ hiền tìm đến,
Dây leo quấn quanh.
Vua nung đá trắng,
Vôi trắng tinh khôi.
Miếng trầu đỏ môi,
Nghĩa tình ở lại.


Thương em đá trắng bên bờ,
Anh thành cây vút vươn cao giữa trời.
Dây trầu quấn quýt không rời,
Lá xanh, cau trắng, thắm lời sắt son.

Bản văn tiếng Việt được lưu trong thư viện. Chưa có thông tin tác giả hoặc ấn bản rõ ràng. Source and reading edition ↗