XuViNHỮNG CÂU CHUYỆN
VI/EN
Lĩnh Nam chích quái

Text in Vietnamese

04 · 木精傳 — Truyện Mộc tinh

Contents ↑

Phiên âm Hán–Việt

Phong Châu chi địa, thượng cổ hữu nhất đại thụ, danh chiên đàn, cao thiên dư nhận, chi diệp tế phất, bất tri kỳ kỷ thiên lý, hữu hạc lai tê (nhất tác hạc sào kỳ thượng), nhân danh kỳ địa viết Bạch Hạc. Kỳ thụ kinh kỷ thiên niên, tuế cửu khô hủ, hóa vi yêu tinh, biến huyễn dũng mãnh, năng sát sinh nhân vật. Kinh Dương Vương dĩ thuật thắng chi, yêu sùng [túy] sảo khuất, nhiên tại thử tại bỉ, biến hóa bất trắc, thường thực nhân. Dân nãi lập từ, mỗi tuế chung thập nhị nguyệt tam thập nhật, tiến dĩ sinh nhân, dân cư thủy an, hô vi Xương Cuồng thần. Tây nam giới cận Mi Hầu quốc, Hùng Vương (nhất tác quốc vương) mệnh Bà Lộ (nhất tác Dạ) man (kim Diễn Châu phủ thị dã) tuế thủ sơn nguyên đầu Lão tử dĩ tiến, vô năng dịch giả.

Cập Tần Thủy Hoàng lệnh Nhâm Ngao vi Long Xuyên lệnh, nhân cách kỳ tệ, vô dĩ sinh nhân đảo, Xương Cuồng nộ sát Ngao. Thị hậu sự chi vưu cẩn. Chí Đinh Thiên [Tiên] Hoàng thời, hữu pháp sư Văn Du Tường (nhất tác Niên), bổn bắc địa nhân, thao hành tu khiết, lịch du chư quốc, thông chư man ngữ, tập đắc kim nha đồng xỉ, niên bát thập dư, du đáo ngã Nam quốc. Tiên Hoàng dĩ sư lễ sự chi, giáo dĩ chi thuật ngu Xương Cuồng thần, sát chi. Kỳ kỹ viết Thượng kỵ, Thượng can, Thượng hiểm, Thượng thát, Thượng toái, Thượng câu. Mỗi niên thập nhất nguyệt, tạo Phi Vân lâu, cao nhị thập xích (nhất tác ngũ thập), dĩ mộc thụ lập kỳ trung, biên ma bì vi đại sách, trường nhất bách tam thập lục xích, kính nhị thốn, dĩ đằng tiêm chức kỳ ngoại, sách lưỡng đầu mai phược vu địa, sách trung quân vu thụ thượng. Thượng kỵ đạp nhi thượng, tật hành tam tứ độ, vãng lai bất trụy. Đầu đới hắc cân, thân trứ hắc quần. Thượng can sách trường nhất bách ngũ thập xích, hữu tam kỳ xứ (nhất bổn vô xứ tự), nhị nhân lưỡng thủ các trì tinh can, đăng hành sách thượng, tương ngộ vu tam kỳ, các tương tị, thăng giáng bất trụy. Hoặc vi Thượng thát, dĩ đại mộc phương khoát nhất xích tam thốn, hậu thất thốn, trí vu thụ thượng, cao thập thất xích tam thốn. Thượng thát vu can thượng khiêu dược nhị tam độ, tiến thoái điên đảo. Hoặc vi Thượng toái, dĩ trúc chức tiêm lung hình như ngư cú, trường ngũ xích, viên tứ xích, Thượng toái đầu thân vu kỳ trung, tự lập nhi đảo duệ (nhất tác tự lập) bất đảo. Hoặc vi Thượng câu, phách thủ (nhất tác nã) dũng dược, hô hát bào hao, chuyển động thủ túc, phủ phúc phủ bễ, tiến thoái cao hạ, hoặc vi mã nhân, kỵ mã bôn tẩu, thùy thân thủ vật vu địa thượng nhi bất lạc. Hoặc vi Thượng hiểm, Thượng can thân ngưỡng ngọa, dĩ thị thừa trường can, mệnh tiểu nhi lục chi nhi bất đảo. Hoặc chinh cổ ca vũ, táo loạn huyên hoa, sát tể sinh vật dĩ lĩnh tận tẩu tử. Vô quái tác yêu, miễn tuế tiến chi lệ, dân đa toàn hoạt.

Dịch nghĩa

Vùng đất Phong Châu, thời thượng cổ có một cây cổ thụ rất lớn gọi là cây chiên đàn, cao hơn nghìn nhận, cành lá rậm rạp che phủ chẳng biết rộng mấy nghìn dặm. Có chim hạc đến đậu (có bản chép chim hạc làm tổ trên cây), nhân đó đặt tên đất ấy là Bạch Hạc. Cây ấy trải qua mấy nghìn năm, năm tháng lâu ngày khô mục hóa thành yêu tinh, biến hóa dũng mãnh, có thể giết hại người và loài vật. Kinh Dương Vương dùng pháp thuật đánh thắng, yêu quái [yêu túy] hơi chịu khuất phục, nhưng nay ở đây mai ở đó, biến hóa khôn lường, thường hay bắt người ăn thịt. Dân chúng bèn lập đền thờ, mỗi độ cuối năm vào ngày ba mươi tháng chạp, phải đem người sống đến hiến tế thì xóm làng mới được yên ổn, dân gọi nó là thần Xương Cuồng. Cõi tây nam giáp nước Khỉ Vượn (Mi Hầu quốc), Hùng Vương (có bản chép là Quốc vương) hạ lệnh cho người man Bà Lộ (có bản chép là Dạ man; nay là phủ Diễn Châu vậy) hàng năm bắt người Lão tử nơi đầu nguồn sông núi đem nộp hiến tế, không ai có thể thay đổi được lệ ấy.

Đến khi vua Tần Thủy Hoàng sai Nhâm Ngao làm quan lệnh huyện Long Xuyên, nhân đó muốn trừ bỏ tệ tục ấy đi, không đem người sống cầu cúng nữa, thần Xương Cuồng nổi giận giết chết Ngao. Từ đó về sau việc thờ cúng thần lại càng thêm cẩn trọng sợ hãi. Cho đến thời vua Đinh Tiên Hoàng [Đinh Thiên Hoàng], có vị pháp sư tên là Văn Du Tường (có bản chép là Văn Du Niên), vốn là người phương Bắc, đức hạnh trong sạch, từng du ngoạn qua các nước, thông tỏ các thứ tiếng man rợ, học được thuật thần thông răng vàng răng đồng, tuổi hơn tám mươi, du ngoạn sang đến nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy tôn kính đối đãi, nhờ dạy thuật làm vui mắt thần Xương Cuồng rồi tìm kế giết trừ. Các trò kỹ thuật ấy gọi là: Thượng kỵ (cưỡi trên dây), Thượng can (đi trên cột cờ có nhánh), Thượng hiểm (nằm ngửa đỡ cột cho trẻ leo), Thượng thát (nhào lộn trên ván gỗ), Thượng toái (chui vào rọ tre lộn ngược), Thượng câu (vỗ tay hò hét múa may và cưỡi ngựa nhặt đồ). Hàng năm cứ vào tháng mười một, dựng lầu Phi Vân cao hai mươi thước (có bản chép năm mươi thước), lấy cây gỗ dựng đứng ở giữa, bện vỏ cây gai làm dây thừng lớn dài một trăm ba mươi sáu thước, đường kính hai tấc, ngoài bọc mây đan khéo léo; hai đầu dây thừng chôn buộc chặt xuống đất, đoạn giữa dây quấn vào ngọn cây. Người làm trò Thượng kỵ giẫm chân bước lên dây thừng, chạy vụt qua lại ba bốn lượt mà không rơi ngã, đầu đội khăn đen, mình mặc váy đen. Người làm trò Thượng can dùng dây thừng dài một trăm năm mươi thước, có chỗ chia làm ba ngã (có bản không có chữ "xứ"), hai người hai tay mỗi người cầm một cán cờ, bước đi trên dây thừng, gặp nhau ở chỗ ba ngã thì né tránh nhường nhau, lên xuống thoăn thoắt không hề ngã rơi. Hoặc làm trò Thượng thát, lấy một tấm gỗ lớn vuông vức rộng một thước ba tấc, dày bảy tấc, đặt ở trên cây cao mười bảy thước ba tấc; người làm trò Thượng thát ở trên cột nhảy nhót hai ba lượt, tiến thoái lộn nhào điên đảo. Hoặc làm trò Thượng toái, lấy nan tre đan thành cái rọ hình như chiếc đó bắt cá, dài năm thước, tròn bốn thước; người làm trò Thượng toái gieo mình chui vào trong rọ, tự đứng rồi bị kéo lộn ngược (có bản chép là tự đứng) mà không ngã. Hoặc làm trò Thượng câu, vỗ tay (có bản chép cầm nắm) nhảy nhót hò hét ầm ĩ gầm thét, múa may chân tay, vỗ bụng vỗ đùi, tiến thoái cao thấp; hoặc làm người cưỡi ngựa, phóng ngựa chạy như bay rồi nhoài mình nhặt đồ vật dưới đất mà không rơi khỏi lưng ngựa. Hoặc làm trò Thượng hiểm, người làm trò Thượng can nằm ngửa mình ra, dùng chân hoặc ngực đỡ một chiếc cột dài, bảo đứa trẻ con trèo thoăn thoắt lên ngọn cột mà không đổ ngã. Lại gõ chiêng đánh trống ca múa rộn ràng, làm huyên náo điếc tai, mổ thịt sinh vật tế bái khiến lũ quỷ ma kinh hoảng chạy trốn chết sạch. Yêu quái không còn dám tác quái nữa, từ đó bãi bỏ hẳn lệ hiến tế người sống hàng năm, dân chúng phần nhiều được bảo toàn mạng sống.

Chú thích

  1. Yêu sùng [túy] sảo khuất (妖崇〔祟〕稍屈): Chữ sùng (崇) khắc nhầm từ chữ túy (祟 - ma quái quấy phá, yêu túy), bản hiệu đính sửa lại chữ túy để chỉ yêu ma chịu khuất phục.
  2. Nhâm Ngao (任囂): Hiệu úy đời Tần, sau làm quan huyện lệnh Long Xuyên (thuộc quận Nam Hải). Chữ 囂 trong tên người này đọc là Ngao.
  3. Đinh Thiên [Tiên] Hoàng (丁天〔先〕皇): Bản khắc viết nhầm chữ Tiên (先) thành chữ Thiên (天), bản hiệu đính sửa lại đúng tôn hiệu vua Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh).
  4. Văn Du Tường: Pháp sư đời Đinh, tương truyền có công dẹp trừ Mộc tinh bằng các trò tạp kỹ xua đuổi ma quỷ.
  5. Các trò tạp kỹ cổ (Thượng kỵ, Thượng can, Thượng thát, Thượng toái, Thượng câu, Thượng hiểm): Miêu tả quý giá của Lĩnh Nam chích quái về các trò diễn xướng tạp kỹ dân gian thế kỷ X (xiếc đi dây, uốn dẻo, xiếc thăng bằng, ảo thuật rọ tre, nhào lộn trên ngựa) dùng trong các nghi lễ trừ tà xua ma.

Bản dịch tiếng Việt từ bản Hán văn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm hai quyển, lời tựa và 23 truyện. Bản Hán văn được lưu từ Wikisource tiếng Trung ngày 21/10/2026; chưa xác định bản chép nền. Source and reading edition ↗