12 · 越井傳 — Truyện giếng Việt
Contents ↑Phiên âm Hán–Việt
Việt tỉnh tại Vũ Ninh quận Trâu sơn. Hùng Vương thế, Ân Vương cử binh nam xâm, trú binh vu Trâu sơn hạ. Hùng Vương cầu trợ vu Long Quân. Long Quân cáo dĩ biến cầu thiên hạ kỳ tài, tặc khả bình hĩ. Đổng Thiên Vương ứng kỳ nhi sinh, kỵ thiết mã kích chi, Ân tướng sĩ giai bôn tẩu. Ân Vương bại tử vu sơn hạ, vi Địa Phủ quân. Dân lập từ phụng tự, tuế cửu tẩm suy, từ miếu đồi phế.
Lịch Chu chí Tần, bổn quốc nhân Thôi Lượng, sĩ Tần vi Ngự sử đại phu yên. Quá kỳ địa, kiến từ đồi bại, từ bi trọng tu miếu vũ, nhân đề thi viết:
Cổ nhân truyền đạo thị Ân vương,
Tuần thú đương niên đáo thử phương.
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu,
Tinh thăng tích tại thượng văn hương.
Nhất triêu thắng bại vô ân đức,
Vạn cổ uy linh trấn Việt Thường.
Bách tính tòng tư giai phụng sự,
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương.
Hậu Nhâm Ngao, Việt Đà tương binh nam xâm (An Dương Vương thời), trú quân vu sơn hạ, trọng tu miếu mạo, hậu gia phụng tự. Ân Vương cảm Lượng đức, dục báo kỳ công, sử Ma Cô tiên xuất cảnh tầm chi. Thời Lượng dĩ tử vu Tần, duy tử Thôi Vĩ thượng tại du học. Thời chính nguyệt Thượng nguyên tiết, dân du thử từ, hữu hiến pha ly bình nhất song. Ma Cô thủ trì ngoạn khán, hốt trụy địa phá khuyết, chúng nhân tróc thủ truy hoàn. Ma Cô y tệ y, nhân bất tri kỳ vi tiên, toại nhục đả thống sở. Thôi Vĩ kiến liên chi, giải y dữ Ma Cô thưởng chi, đắc miễn. Ma Cô vấn Vĩ sở cư, Vĩ cụ đạo phụ do. Ma Cô thủy tri kỳ vi Thôi Ngự sử chi tử, hỉ vị Vĩ viết: “Kim ngô vô báo, tha nhật tất hữu báo chi.” Nhân thụ Vĩ ngải nhất thúc, vị viết: “Cẩn thủ thử vật, bất ly kỳ thân, hậu kiến nhân hữu nhục anh tật tại thủ, cứu chi tức tiêu, tất đắc đại phú quý.” Vĩ thụ chi, diệc bất tri kỳ vi tiên dược.
Hành chí thân hữu Ứng Huyền gia, Huyền vi đạo sĩ, hữu thủ anh. Vĩ viết: “Ngã hữu ngải, năng trị thử tật, thỉnh vi trị chi.” Nãi dĩ ngải cứu, kỳ anh tự tiêu. Huyền viết: “Thị tiên dược dã, vô vật hoàn báo, nguyện dĩ biệt ân báo chi. Ngã kiến thân thích quý nhân diệc sự [hữu] thử tật, thường ngôn thùy năng liệu thử, tắc phân gia tài dữ chi bất lận. Thỉnh quân trị chi, nhân dĩ vi báo.”
Huyền dẫn Vĩ tựu Nhâm Ngao gia cứu chi, anh tức tiêu dũ. Ngao thậm hỉ, dưỡng Vĩ vi nghĩa tử, khai học đường dĩ tứ vi học, đãi kỳ hữu dụng. Vĩ tính thông minh, độc thư cổ cầm, Ngao nữ Phương Dung kiến nhi duyệt chi, nhân dữ Vĩ thông. Ngao tử Nhâm Phu tri chi, dục trí chi tử, tương dĩ Vĩ tự Xương Cuồng thần. Dụ viết: “Niên chung tiến Xương Cuồng thần, vị hữu kỳ nhân. Kim bất khả lộ hành, khủng bị sinh cầm. Thả nhập ẩn thính phòng dĩ tị chi.” Vĩ bất tri kỳ ý, tòng chi. Nhâm Phu tỏa kỳ môn, Phương Dung tri chi, tiềm dĩ đao dữ Vĩ, tạc bích nhi xuất.
Mộ dạ ám hành, dục tựu Ứng Huyền gia. Bôn hành sơn thượng, sơn hữu quật, hốt trụy huyệt trung, ước nhất canh đáo huyệt để. Vĩ thống ngọa nhất khắc, phương năng khởi tọa. Nhật xuất chí ngọ, chiếu thấu huyệt trung, kiến tứ cố giai thạch bích, vô giai khả thăng. Kỳ thượng hữu nhất thạch khối, nham nhũ lưu vu thạch bàn. Hữu nhất bạch xà, thân trường bách trượng, kỳ giác xích, khẩu thanh, nhiêm bạch, lân cảnh hạ hữu anh tật, ngạch thượng hữu kim tự viết: “Vương Kinh Tử”. Xà xuất thực thạch nhũ, tái thâm nhập huyệt trung. Vĩ cư huyệt trung tam nhật, cơ thậm, đạo thực thạch nhũ, xà xuất, kiến nhũ bàn không tận. Cử thủ kiến Vĩ, dục thôn chi. Vĩ kinh cụ, quỵ bái viết: “Thần tị nan trụy vu thử, vô dĩ sung cơ, đạo thực kỳ vật, thành vi hữu tội. Kim kiến hữu ngạch hạ nhục anh, thần hữu tam niên ngải, nguyện khoan thần tội, dĩ tận tiểu kỹ.” Xà ngưỡng thủ cầu cứu. Hốt kiến hỏa thiêu, thượng hữu nhất phiến thán lạc hạ huyệt trung, Vĩ thủ cứu chi, anh tức tiêu dũ. Xà nãi loan thân hướng Vĩ tiền, ý dục lệnh Vĩ kỵ thượng. Vĩ nãi kỵ kỳ bối, xà tức tương xuất huyệt trung, dạ nhị canh đáo nhai thượng, bất kiến nhân hành, xà diêu vĩ, sử Vĩ hạ, hậu nhập huyệt trung.
Vĩ hành mê lộ, hoảng kiến nhất thành, môn thượng hữu cao lâu, xích ngõa linh lung, đăng quang chiếu diệu. Môn quải xích biển, tiêu đề kim tự viết: “Ân Vương thành”. Vĩ tọa môn bàng, vọng kiến đình trung hữu trì, trì trung hữu ngũ sắc liên hoa. Trì bạn hữu hòe liễu sổ hành. Chuyên nhai bình thản, ngọc điện châu cung, lang vũ hồng sưởng. Thượng thiết kim long sàng, phô ngân hoa tịch. Hữu cầm sắt nhị trương, tịch bất kiến nhân. Vĩ từ lai cổ chi, nga kiến kim đồng ngọc nữ sổ bách nhân, đãi vệ Ân Vương hậu khai môn nhi xuất. Vĩ đại kinh, hạ điện phục bái. Hậu tiếu viết: “Thôi quan nhân tự hà nhi lai?” Dẫn tiếp thượng điện, viết: “Tiền Ân Vương điện phế hoại, vô nhân phụng tự, lại Thôi Ngự sử trọng tu, thế nhân hiệu chi, phụng tự vô cùng. Dĩ mệnh Ma Cô tiên tầm báo đức, bất ngộ Ngự sử nhi ngộ công tử, vị hữu dĩ báo. Kim đắc đổ công tử diện, nhiên Thượng đế hữu sắc, vương triều thiên tại.” Nãi tứ Vĩ tửu soạn, khuyến chi túy bão phương bãi. Hốt kiến nhất nhân trường tu đại phúc, phụng biểu tiền lai, quỵ tấu viết: “Chính nguyệt thập tam nhật, bắc nhân Nhâm Ngao bị Xương Cuồng thần đả tử.” Tấu tất, hậu vị viết: “Dương quan nhân dẫn Thôi công tử quy thế.” Hậu toại quy. Dương quan nhân sử Vĩ bế mục tọa kiên thượng, nhất khắc dư đáo sơn thượng. Dương quan nhân hóa vi thạch dương, lập vu sơn trung, kim do tại Trâu sơn dương Triệu Việt Vương từ.
Hậu Vĩ quy Ứng Huyền gia, cụ đạo kỳ sự. Chí bát nguyệt nhất nhật, đương tà dương thời, Vĩ dữ Huyền tương xuất du, kiến Ma Cô tiên huề nhất nữ tứ Vĩ, sử vi phu phụ, tịnh tứ Long toái bảo châu.
Sơ, châu hữu thư hùng nhất song, tự Hoàng Đế lịch Ân, truyền vi thế bảo. Trâu sơn chi chiến, Ân Vương bội chi nhi tử, mai tàng địa trung, châu chi quang thải thường xung thiên. Tần thời binh hỏa, trân bảo câu phần. Vọng khí tri kỳ Long toái bảo châu thượng tại Nam quốc, viễn lai cầu sách. Chí thị Ân Vương dĩ bảo châu báo Vĩ. Thời nhân dĩ kim ngân thải đoạn giá tiền bách vạn quán mãi chi, Vĩ vu thị đại phú. Hậu Ma Cô tiên nghênh Vĩ phu thê khứ, bất tri hà chi, hóa tiên hĩ. Kim tỉnh dĩ hoang thành khoát huyệt, tục truyền vi Việt tỉnh cương.
Dịch nghĩa
Giếng Việt nằm ở ngọn núi Trâu Sơn thuộc quận Vũ Ninh. Vào đời vua Hùng Vương, vua nhà Ân dấy binh xâm lấn phương Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Lạc Long Quân. Long Quân bảo hãy tìm kiếm khắp thiên hạ bậc kỳ tài thì dẹp yên được giặc. Đổng Thiên Vương ứng kỳ sinh ra, cưỡi ngựa sắt xông vào đánh giáp lá cà, tướng sĩ nhà Ân tan tác tháo chạy. Vua Ân bại trận chết ở dưới chân núi, hóa làm thần Địa Phủ quân. Dân chúng lập đền thờ phụng, năm tháng lâu ngày việc thờ cúng phai nhạt dần, đền miếu hoang phế đổ nát.
Trải qua đời Chu đến đời Tần, có người bản quốc tên là Thôi Lượng, làm quan bên nhà Tần tới chức Ngự sử đại phu. Khi đi qua chốn ấy, thấy đền miếu xiêu tàn hoang phế, bèn rủ lòng từ bi đứng ra trùng tu lại ngôi miếu, nhân đó đề một bài thơ rằng:
Cổ nhân truyền đạo thị Ân vương,
Tuần thú đương niên đáo thử phương.
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu,
Tinh thăng tích tại thượng văn hương.
Nhất triêu thắng bại vô ân đức,
Vạn cổ uy linh trấn Việt Thường.
Bách tính tòng tư giai phụng sự,
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương.
Dịch thơ:
Người xưa truyền bảo ấy vua Ân,
Tuần thú năm xưa tới cõi trần.
Non biếc nước trôi trơ miếu quạnh,
Hồn bay dấu cũ thoảng mùi hương.
Một mai bại thắng đâu ân đức,
Muôn thuở uy linh rạng cõi Nam.
Trăm họ từ nay đều kính bái,
Ngầm phò vận nước mãi muôn năm!
Về sau bọn Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lược phương Nam (vào thời An Dương Vương), đóng quân ở dưới chân núi, cũng sửa sang lại đền miếu, gia tăng đồ lễ cúng tế. Vua Ân cảm kích ân đức của Thôi Lượng, muốn báo đáp công lao ấy, bèn sai nàng tiên Ma Cô ra ngoài cõi trần tìm kiếm. Bấy giờ Thôi Lượng đã qua đời bên nước Tần, chỉ còn người con trai là Thôi Vĩ đang đi du học. Bấy giờ vào dịp tết Thượng nguyên tháng giêng, dân chúng rủ nhau đi vãn cảnh ngôi đền này, có người dâng cúng một đôi bình lưu ly pha lê quý giá. Ma Cô cầm lấy ngắm nghía chơi, chẳng may vuột tay rơi xuống đất vỡ tan tành, đám đông xúm lại bắt giữ đòi đền. Ma Cô mặc manh áo rách rưới, người đời không ai biết nàng là tiên, bèn xúm vào đánh mắng đòn roi đau đớn. Thôi Vĩ trông thấy sinh lòng thương xót, cởi áo ngoài đền bù thay cho Ma Cô, nàng mới được tha. Ma Cô hỏi nơi ở của Vĩ, Vĩ kể rõ gốc tích cha mình. Ma Cô mới biết chàng chính là con trai của quan Ngự sử họ Thôi, mừng rỡ bảo Vĩ rằng: “Nay ta chưa có gì đền đáp, ngày sau nhất định sẽ có mối đền ơn.” Liền trao cho Vĩ một bó ngải cứu, dặn rằng: “Hãy cẩn thận giữ lấy vật này, chớ để rời xa mình, sau này hễ thấy ai có chứng bệnh mọc bướu thịt ở trên đầu, lấy ngải này đốt cứu thì bướu tự khắc tiêu tan, ắt sẽ được hưởng đại phú quý.” Vĩ đón nhận lấy, cũng không ngờ đó chính là tiên dược thần kỳ.
Vĩ đi đến nhà một người bạn thân tên là Ứng Huyền. Huyền làm đạo sĩ, trên đầu cũng mọc một cái bướu thịt to tướng. Vĩ bảo: “Tôi có bó ngải này chữa được chứng tật ấy, xin vì bác mà chữa cho.” Liền lấy ngải ra đốt cứu vào chỗ bướu, chiếc bướu tự nhiên tiêu tan mất hút. Huyền kinh ngạc nói: “Đây đích thị là thuốc tiên rồi! Tôi chẳng có của cải chi đền đáp, xin đem mối ơn khác mà tạ ơn bạn. Tôi thấy có người bà con thân thích làm quan quyền quý cũng mắc [có] chứng bệnh này, thường rêu rao rằng ai chữa khỏi được bướu thì xin đem nửa gia tài chia cho chẳng tiếc. Xin mời bạn đến chữa cho ông ta, nhân đó coi như mối báo ơn của tôi.”
Huyền bèn dẫn Vĩ đến tận nhà quan úy Nhâm Ngao cứu ngải cho, chiếc bướu liền tiêu tan lành hẳn. Nhâm Ngao mừng rỡ khôn xiết, nhận Vĩ làm con nuôi, mở học đường trong nhà cho Vĩ ăn học, đãi ngộ để chờ ngày trọng dụng. Vĩ tính tình thông minh đĩnh ngộ, ngày ngày đọc sách gảy đàn; con gái Nhâm Ngao là nàng Phương Dung trông thấy đem lòng yêu mến, nhân đó cùng Vĩ lén lút tư thông. Con trai Nhâm Ngao là Nhâm Phu hay biết chuyện, sinh lòng ghen ghét muốn đẩy Vĩ vào chỗ chết, định đem Vĩ đi hiến tế cho thần Xương Cuồng. Phu bèn lừa Vĩ rằng: “Cuối năm tế thần Xương Cuồng, chưa tìm được người hiến tế. Nay em chớ nên đi lại ngoài đường sá, sợ bị bắt sống mất. Hãy tạm vào buồng kín trong sảnh lánh mặt đi.” Vĩ không rõ mưu mô hiểm độc, bèn nghe theo. Nhâm Phu khóa trái then cửa lại. Nàng Phương Dung biết chuyện, liền lén đưa cho Vĩ một con dao, Vĩ khoét thủng vách tường trốn thoát ra ngoài.
Trong đêm tối mò mẫm chạy trốn, Vĩ toan tìm đến nhà Ứng Huyền nương náu. Chạy băng qua sườn núi hoang, trên núi có hố sâu, Vĩ sẩy chân rơi tọt xuống đáy hang, ước chừng hết một canh giờ mới rơi chạm tới đáy. Vĩ đau đớn nằm mê man một lúc lâu mới gượng ngồi dậy được. Đến lúc mặt trời lên đỉnh lúc giữa trưa, ánh nắng rọi thấu đáy hang, nhìn bốn bề thảy đều là vách đá dựng đứng cheo leo, không có bậc thang nào trèo lên được. Phía trên có một tảng đá lớn, nhũ đá chảy ròng ròng xuống phiến đá bàn. Lại thấy một con rắn trắng khổng lồ, mình dài trăm trượng, sừng đỏ, miệng xanh, râu trắng toát, dưới ngấn vảy cổ có một chiếc bướu thịt to, trên trán có hàng chữ vàng đề: “Vương Kinh Tử”. Rắn bò ra liếm ăn nhũ đá rồi lại chui sâu vào đáy hang. Vĩ ở trong hang suốt ba ngày ròng, bụng đói lả, bèn bò ra ăn vụng nhũ đá trên bàn đá. Rắn trườn ra thấy nhũ đá nhẵn thín, ngửng đầu thấy Vĩ, chực há miệng nuốt chửng. Vĩ kinh hãi sợ sệt quỳ lạy van rằng: “Thần vì lánh nạn sẩy chân rơi xuống chốn này, bụng đói cồn cào không có gì ăn nên trót mạo phạm ăn vụng của quý, thực có tội lớn. Nay trông thấy dưới cổ ngài có bướu thịt, thần có thuốc ngải ba năm chữa khỏi được, xin ngài rộng lòng dung thứ, để thần đem chút tài mọn chữa cho.” Rắn ngửa đầu cho Vĩ đốt cứu. Bỗng thấy trên miệng hang có lửa cháy, một cục than hồng rơi tọt xuống đáy hang; Vĩ nhặt lấy mồi lửa châm ngải cứu vào bướu, chiếc bướu liền tiêu tan lành hẳn. Rắn bèn cúi mình sà sát trước mặt Vĩ, ra ý bảo Vĩ trèo lên lưng. Vĩ liền cưỡi lên lưng rắn, rắn đưa Vĩ trườn thẳng ra khỏi miệng hang. Đến canh hai đêm ấy lên đến bờ vực đá, nhìn quanh không thấy bóng người, rắn vẫy đuôi bảo Vĩ bước xuống, rồi trườn trở lại vào trong hang.
Vĩ lần bước đi trong đêm lạc đường, bỗng mờ mờ thấy hiện ra một tòa thành quách, trên cổng có lầu cao, ngói đỏ lung linh, ánh đèn đuốc rực rỡ sáng soi. Cổng treo tấm biển đỏ đề chữ vàng: “Ân Vương thành”. Vĩ ngồi tựa bên cổng thành, ngóng nhìn trong sân thấy có một hồ sen, giữa hồ nở đầy hoa sen ngũ sắc. Ven bờ hồ có mấy hàng hòe liễu sum sê rủ bóng. Đường lát gạch phẳng lỳ thênh thang, điện ngọc cung châu tráng lệ, hành lang rộng rãi nguy nga. Trên điện đặt giường rồng bằng vàng, trải chiếu hoa bằng bạc. Lại có hai cây đàn cầm đàn sắt đặt đó, bốn bề vắng lặng không một bóng người. Vĩ thong thả bước vào gảy thử phím đàn, chốc lát thấy mấy trăm kim đồng ngọc nữ thị vệ nghênh đón Vương hậu của vua Ân mở cửa bước ra. Vĩ kinh ngạc muôn phần, vội bước xuống điện quỳ lạy sụp xuống. Vương hậu mỉm cười bảo: “Thôi quan nhân từ chốn nào lại đây?” Liền rước Vĩ lên điện phán rằng: “Trước kia đền miếu của tiên vương bị hoang phế đổ nát, không ai hương khói, may nhờ có quan Ngự sử họ Thôi trùng tu sửa sang, người đời noi theo mà phụng tế dài lâu. Ta đã sai tiên Ma Cô ra trần tìm kiếm đền ơn, tiếc thay chưa gặp được Ngự sử mà chỉ gặp công tử, chưa kịp báo đáp điều chi. Nay được hội kiến công tử nơi đây, song vì Thượng đế có chiếu chỉ nên nhà vua đang bận chầu trên thiên đình.” Liền ban tiệc rượu cho Vĩ, khuyên Vĩ ăn uống no say thỏa thích mới thôi. Bỗng thấy một người râu dài bụng lớn, bưng tờ biểu tiến lên quỳ tâu: “Ngày mười ba tháng giêng, tên giặc Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết tươi rồi.” Tâu xong, Vương hậu bảo rằng: “Nhờ Dương quan nhân đưa Thôi công tử trở về dương thế.” Hậu liền lui vào cung. Dương quan nhân bảo Vĩ nhắm mắt ngồi lên vai mình, chỉ chừng một khắc đã đưa Vĩ lên đến đỉnh núi. Dương quan nhân thoắt cái hóa thành một con dê đá đứng sừng sững giữa sườn núi, nay pho tượng dê đá ấy vẫn còn ở phía nam núi Trâu Sơn bên cạnh đền thờ Triệu Việt Vương vậy.
Về sau Vĩ lần về nhà Ứng Huyền, kể lại tường tận sự tình kỳ lạ ấy. Đến ngày mồng một tháng tám, nhằm lúc bóng chiều tà ngả bóng, Vĩ cùng Ứng Huyền dạo gót ngoạn cảnh, thấy nàng tiên Ma Cô dắt theo một trang tuyệt sắc giai nhân ban cho Vĩ, se duyên làm vợ chồng, lại ban thưởng cho hạt ngọc quý Long toái bảo châu.
Nguyên xưa, đôi hạt ngọc Long toái bảo châu có đủ một đôi trống mái, từ thời Hoàng Đế truyền qua nhà Ân, lưu truyền làm bảo vật gia truyền đời đời. Trận đánh ở núi Trâu Sơn năm xưa, vua Ân đeo hạt ngọc bên mình rồi tử trận, ngọc bị chôn vùi dưới lòng đất, ánh hào quang của hạt ngọc thường bốc thẳng lên ngút trời xanh. Đến đời Tần binh lửa loạn lạc, châu báu ngọc ngà đều bị thiêu rụi hết, các nhà thiên văn trông ngắm thiên khí biết hạt ngọc Long toái bảo châu vẫn còn vùi ở cõi trời Nam, bèn lặn lội từ xa tìm sang kiếm tìm. Nay vua Ân lấy hạt ngọc báu ấy báo đền công ơn của họ Thôi. Người đời bấy giờ đem vàng bạc gấm vóc giá đáng trăm vạn quan tiền đến chuộc mua, Thôi Vĩ nhân đó trở nên giàu có tột bậc. Về sau tiên Ma Cô đón vợ chồng Thôi Vĩ bay đi mất, chẳng ai hay đi về phương nào, ắt đã hóa tiên thăng thiên vậy. Nay chiếc giếng xưa đã hoang phế thành cái hố rộng lớn, người đời truyền tụng gọi là gò Giếng Việt (Việt Tỉnh cương) vậy.
Chú thích
- Sự [hữu] thử tật (亦事〔有〕此疾): Chữ sự (事) do khắc nhầm từ chữ hữu (有 - có), bản hiệu đính sửa lại chữ hữu để câu văn sáng tỏ: "người bà con thân thích cũng có mắc chứng bệnh này".
- Ngải ba năm (tam niên ngải): Vị thuốc ngải cứu phơi khô ủ lâu năm dùng trong thuật cứu châm cứu đông y cổ truyền để khu phong tán hàn, tiêu tan u bướu.
- Địa Phủ quân / Ân Vương thành: Truyền thuyết thể hiện sự tích hợp tín ngưỡng dân gian khi biến vua giặc bại trận thành vị thần âm phủ cai quản cõi đất, đền ơn người tu bổ miếu mạo.
- Việt Tỉnh cương (gò Giếng Việt): Di tích gò đất cổ gắn với huyền thoại Thôi Lượng, Thôi Vĩ, tiên Ma Cô và hang rắn thần nuốt nhũ đá ngậm ngọc Long Toái.
Bản dịch tiếng Việt từ bản Hán văn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm hai quyển, lời tựa và 23 truyện. Bản Hán văn được lưu từ Wikisource tiếng Trung ngày 21/10/2026; chưa xác định bản chép nền. Source and reading edition ↗