15 · 蠻娘傳 — Truyện Man Nương
Contents ↑Phiên âm Hán–Việt
Hán Hiến Đế thời, Thái thú Sĩ Nhiếp thành vu Bình Giang nam biên (kim Thiên Đức giang thị dã), thành chi nam hữu phật tự, hữu tăng tự tây nhi lai, hào Già La Xà Lê, trụ trì thử tự. Năng lập độc cước chi pháp, nhân kính phụng chi, hô tăng vi tôn sư, giai lai học đạo.
Thời hữu nữ danh Man Nương, phụ mẫu câu vong, bần khổ nhật thậm, diệc đốc cầu phật đạo. Nhiên nột vu ngôn ngữ, bất năng dữ chúng tụng kinh, thường cư trù táo đảo mễ, thải thái xuy thoán, dĩ cung nhất tự chi tăng nãi tứ phương học giả.
Ngũ nguyệt gian dạ khắc đoản, tăng đồ tụng kinh đáo kê ô thời, Man Nương cung trù dĩ thục, tăng đồ tụng kinh vị dĩ, vị hành thực chúc, Man Nương nãi giả mị vu môn trù trung, bất ý vong cơ thục thụy. Tăng đồ tụng kinh bãi, các quy bổn phòng. Man Nương đương môn thụy, tăng đồ lê bộ quá Man Nương, Man Nương hâm nhiên nãi động, bào lý thụ thai. Tam tứ nguyệt gian, Man Nương hữu tàm sắc nhi quy, đồ lê diệc tu nhi khứ.
Man Nương hành chí tam kỳ lộ giang đầu tự cư chi, mãn nguyệt sinh nhất nữ, tầm đồ lê hoàn chi. Dạ gian, đồ lê tương nữ tựu tam kỳ lộ, kiến dung [dung] thụ chi diệp mậu thịnh, hữu nhất đố xứ thâm khiết, đồ lê phó dữ viết: “Ngã ký thử phật tử, nhữ tàng chi, các thành phật đạo.” Đồ lê, Man Nương tương từ khứ, đồ lê dữ Man Nương nhất trượng, viết: “Ngã dĩ thử tứ nhữ, nhữ hoàn, hoặc hữu tuế thời đại hạn, nhữ dĩ trượng trạo địa, địa thượng xuất thủy, dĩ cứu sinh dân.” Man Nương kính thụ nhi hoàn cư bổn tự.
Ngộ tuế đại hạn, dĩ trượng trác lập, địa tự nhiên thủy dũng xuất, dân đa lại chi. Thời Man Nương cửu thập dư tuế, thích dung thụ tồi đảo, lưu chí tự tiền giang tân, bàn toàn bất khứ, dân cánh chước vi sài, phù cân phá khuyết, nãi tương suất hương lý tam bách dư nhân, duệ chi bất động. Hội Man Nương hạ giang tân tẩy thủ, hí xanh chi, kỳ thụ chuyển di. Chúng giai kinh dị, sử Man Nương duệ thượng ngạn, lệnh tượng nhân tác tứ phật tượng. Chước thụ trung, chí tam kỳ sở tàng nữ xứ, kiến dĩ hóa thành nhất thạch thậm kiên. Tượng nhân chước chi, phù cân tận khuyết. Tượng nhân đầu thạch uyên trung, quang mang phóng xuất, khoảnh khắc dư thủy trầm, tượng nhân giai tử. Thỉnh Man Nương lễ bái, tá ngư nhân nhập thủy thu chi, nghênh nhập tự điện, nạp phật tượng trung, kỳ tượng thiếp dĩ kim, đồ lê trí hào phật tượng viết Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi. Tứ phương kỳ đảo, vô bất ứng giả, giai hô Man Nương vi Phật Mẫu. Tứ nguyệt sơ tứ nhật vô bệnh nhi chung, táng vu tự trung, nhân dĩ thử nhật vi phật sinh thần, mỗi niên thị nguyệt nhật, tứ phương nam nữ thường tụ hội kỳ tự, du hí ca vũ, thế hô vi dục phật hội vân.
Dịch nghĩa
Vào thời vua Hán Hiến Đế bên phương Bắc, quan Thái thú Sĩ Nhiếp xây đắp thành trì ở phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức vậy), phía nam tòa thành có một ngôi chùa Phật. Có một vị cao tăng từ Tây Trúc sang, đạo hiệu là Già La Xà Lê [Khâu Đà La], trụ trì tại chùa này. Sư có phép đứng thiền một chân rất đỗi mầu nhiệm, người đời kính cẩn tôn sùng, gọi ngài là bậc tôn sư, bốn phương tấp nập kéo đến học đạo.
Bấy giờ có người con gái tên là nàng Man Nương, cha mẹ đều mất sớm, cảnh nhà ngày một nghèo túng bần hàn, nhưng một lòng tha thiết hướng về cửa Phật. Song vì ăn nói ngọng nghịu vụng về, chẳng thể cùng mọi người tụng niệm kinh kệ, nàng thường ở dưới nhà bếp giã gạo, hái rau nấu nướng thổi cơm, để chu cấp cúng dường cho chư tăng trong chùa cùng các học giả bốn phương đến học.
Vào khoảng tháng năm đêm ngắn, tăng đồ tụng kinh mãi đến lúc gà gáy sáng, Man Nương dưới bếp đã nấu chín cháo xong xuôi. Nhưng thấy chư tăng tụng kinh chưa dứt chưa chịu xuống ăn cháo, Man Nương bèn dựa lưng vào bậu cửa bếp nằm chợp mắt, chẳng ngờ quên bẵng sự đời ngủ say như chết. Đám tăng đồ tụng kinh xong xuôi, ai nấy đều trở về phòng riêng. Man Nương nằm ngủ chắn ngay giữa cửa lối đi, nhà sư Xà Lê cất bước bước qua người nàng; Man Nương bỗng thấy trong lòng xao xuyến chuyển động, bào thai thụ thai từ đó. Qua ba bốn tháng sau, Man Nương thấy bụng to sinh lòng e thẹn xấu hổ trốn về quê, nhà sư Xà Lê cũng thấy thẹn lòng bỏ chùa đi nơi khác.
Man Nương đi đến một ngôi chùa ở ngã ba đầu sông lánh ngụ, mãn nguyệt khai hoa sinh được một đứa con gái, liền đi tìm sư Xà Lê để trao trả con. Đêm hôm ấy, sư Xà Lê bế đứa bé gái đến ngã ba đường, thấy có một cây dung [cây đa] cành lá sum sê tươi tốt, trên thân cây có một hốc cây sâu hoắm tinh sạch, sư bèn đặt đứa trẻ vào trong hốc cây dặn rằng: “Ta gửi đứa con gái cửa Phật này cho ngươi, ngươi hãy che chở cất giấu lấy, mai sau cùng thành Phật đạo.” Sư Xà Lê và Man Nương sắp chia tay từ biệt, sư trao cho nàng một chiếc gậy tích trượng, dặn rằng: “Ta đem vật này ban cho nàng, nàng trở về, ngộ nhỡ gặp năm hạn hán nắng cháy, nàng hãy lấy chiếc gậy này cắm chống xuống đất, nước từ lòng đất sẽ tự nhiên phun trào lên để cứu vớt sinh dân.” Man Nương kính cẩn đón nhận rồi trở về nương náu ở ngôi chùa cũ.
Sau gặp năm trời đại hạn nắng gắt, nàng đem chiếc gậy cắm đứng xuống đất, tức thì dòng nước ngọt tự nhiên từ lòng đất cuồn cuộn tuôn trào ra, dân chúng quanh vùng phần nhiều nhờ đó mà thoát chết hạn. Năm ấy Man Nương tuổi đã ngoài chín mươi, vừa hay cây đa cổ thụ năm xưa bị phong ba quật đổ rạp xuống sông, trôi xuôi về bến sông trước cửa chùa rồi xoay tròn lượn lờ ở đó mãi không chịu trôi đi. Dân làng đổ xô ra vác búa rìu đẵn làm củi, nhưng búa rìu chém vào đều mẻ quăn lưỡi hết. Dân làng bèn rủ nhau hơn ba trăm tráng đinh ra kéo cây lên bờ, nhưng cây nặng như núi kéo mãi không nhúc nhích. Vừa lúc Man Nương thong thả xuống bến sông rửa tay, nàng ghé tay nắm lấy cành cây đẩy nhẹ làm chơi, lạ thay cây gỗ liền chuyển dịch trôi theo. Mọi người ai nấy đều kinh ngạc phi thường, bèn nhờ Man Nương kéo một mạch cây đa gỗ quý lên bờ. Liền thuê thợ mộc đẽo cây tạc thành bốn pho tượng Phật. Khi thợ đẵn chém vào giữa thân cây, đến chỗ hốc cây ngã ba nơi cất giấu đứa con gái năm xưa, thấy đã hóa thành một tảng đá cứng như sắt thép. Thợ mộc lấy búa chém vào hòn đá, búa rìu đều mẻ gãy sạch trơn. Đám thợ tức mình bèn bê tảng đá quẳng xuống vực nước sâu thẳm, bỗng thấy hào quang chói lọi bốc lên sáng rực, trong khoảnh khắc tảng đá mới chìm xuống, đám thợ mộc ấy thảy đều lăn đùng ra chết tươi. Mọi người hoảng sợ, bèn kính cẩn cầu xin Man Nương đến làm lễ bái lạy, rồi mượn người chài lưới lặn xuống nước rước tảng đá lên, rước vào trong điện Phật, đặt lọt thỏm vào trong bụng một pho tượng Phật, tượng ấy được dát vàng sáng chói. Sư Xà Lê đặt tôn hiệu cho bốn pho tượng Phật ấy lần lượt là: tượng Phật Pháp Vân (mây mầu), tượng Phật Pháp Vũ (mưa lành), tượng Phật Pháp Điện (chớp sáng), và tượng Phật Pháp Lôi (sấm rền). Người đời bốn phương đến cầu đảo mưa gió, không việc gì là không linh ứng, ai ai cũng tôn kính gọi nàng Man Nương là Đức Phật Mẫu. Ngày mồng bốn tháng tư năm ấy, nàng Man Nương không bệnh tật gì mà an nhiên tạ thế, an táng ngay trong khuôn viên chùa. Người đời lấy ngày ấy làm ngày khánh đản sinh thần của Phật, hằng năm cứ vào ngày mồng bốn tháng tư, nam thanh nữ tú bốn phương lại nô nức tụ hội về ngôi chùa ấy vui chơi ca múa mừng hội, người đời gọi đó là ngày hội tắm Phật (Dục Phật hội) vậy.
Chú thích
- Dung [dung] thụ (蓉〔榕〕樹): Bản khắc nhầm chữ dung (蓉) thành chữ dung (榕 - cây đa/cây si), bản hiệu đính sửa lại cho đúng chữ dung thụ (cây đa cổ thụ).
- Hệ thống chùa Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lôi): Trung tâm Phật giáo Luy Lâu cổ (Thuận Thành, Bắc Ninh), nơi khởi nguồn tín ngưỡng Phật giáo bản địa kết hợp đạo Phật Ấn Độ với tín ngưỡng thờ Mẫu và các nữ thần tự nhiên (Mây, Mưa, Sấm, Chớp). Tượng đá trong bụng Phật Pháp Vân được dân gian gọi là Thạch Quang Phật.
- Đức Phật Mẫu Man Nương: Vị nữ tổ Phật giáo đầu tiên của Việt Nam, chùa Dâu (Diên Ứng tự) là ngôi chùa cổ nhất thờ phụng bà.
Bản dịch tiếng Việt từ bản Hán văn Lĩnh Nam chích quái liệt truyện gồm hai quyển, lời tựa và 23 truyện. Bản Hán văn được lưu từ Wikisource tiếng Trung ngày 21/10/2026; chưa xác định bản chép nền. Source and reading edition ↗